Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
THIÊN VĂN HỌC

ngành khoa học có từ lâu đời, nghiên cứu quy luật chuyển động, cấu tạo và sự phát triển của các vật thể vũ trụ, các hệ thống do chúng tạo thành cũng như của cả vũ trụ. Bao gồm: thiên văn cầu, thiên văn thực hành, thiên văn vật lí, cơ học thiên thể, thiên văn sao, thiên văn ngoài Thiên Hà, tinh nguyên học, vũ trụ học, vv. Phát sinh từ nhu cầu thực tiễn của con người như dự đoán các hiện tượng mùa, tính lịch, xác định vị trí trên mặt đất, vv. TVH hiện đại đã thay thế quan niệm vũ trụ địa tâm [của nhà khoa học cổ Hi Lạp Ptôlêmê (Ptolémée), thế kỉ 2] bằng hệ thống vũ trụ nhật tâm [của nhà thiên văn học người Ba Lan Kôpecnich (N. Kopernik), thế kỉ 16]; nó ra đời với sự khởi đầu dùng kính thiên văn [của nhà toán học, vật lí - thiên văn học người Italia Galilê (G. Galilée) đầu thế kỉ 17] và sự phát hiện ra định luật hấp dẫn vũ trụ [của nhà toán học, vật lí - thiên văn học người Anh Niutơn (I. Newton), thế kỉ 17]. Trong lịch sử TVH, thế kỉ 18 và 19 là thời kì tích luỹ các số liệu về hệ Mặt Trời, Thiên Hà và bản chất vật lí của các sao, của Mặt Trời, các hành tinh và các thiên thể khác. Sang thế kỉ 20, nhờ phát hiện được hệ Thiên Hà, bộ môn thiên văn học ngoài Thiên Hà mới bắt đầu hình thành và phát triển. Nghiên cứu phổ của các Thiên Hà cho phép nhà vật lí thiên văn Hoa Kì Habơn (E. P. Hubble) phát hiện (1929) ra sự giãn nở chung của vũ trụ mà nhà toán học và địa vật lí Xô Viết Fritman (A. A. Friedman) đã tiên đoán (1922) dựa trên thuyết hấp dẫn do nhà bác học người Đức Anhxtanh (A. Einstein) xây dựng năm 1915 - 16. Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đã tác động có tính chất nhảy vọt đối với TVH nói chung và thiên văn vật lí nói riêng. Việc chế tạo được các kính thiên văn quang học và kính vô tuyến thiên văn có độ phân giải cao, việc sử dụng các máy siêu tính, vệ tinh nhân tạo của Trái Đất, các con tàu vũ trụ, kính viễn vọng Habơn ngoài vũ trụ để tiến hành quan sát thiên văn từ ngoài khí quyển, đã cho phép phát hiện hàng loạt các vật thể mới như các Thiên Hà vô tuyến, các quaza, punxa và các nguồn bức xạ Rơnghen, các hố đen, vv. Đã xây dựng được cơ sở của thuyết tiến hoá sao và thuyết nguồn gốc của hệ Mặt Trời. Thành tựu lớn nhất của thiên văn vật lí trong thế kỉ 20 là sự ra đời vũ trụ học tương đối tính, còn gọi là thuyết tiến hoá của toàn vũ trụ. Xt. Bich beng; Sao; Thiên Hà.