Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
THƯ PHÁP

(Shufa), phép viết chữ của người Trung Hoa và người Arập được nâng lên thành một nghệ thuật. Chữ của người Trung Hoa trải qua 3 giai đoạn phát triển về mặt hình thể: 1) Giai đoạn đầu tiên khi mới có chữ là hình vẽ (Mặt Trời, Mặt Trăng, núi, dê, rùa, hươu...) thấy nhiều trên đồ đồng xanh đời Ân Thương (Yinshang). 2) Giai đoạn thứ hai là vạch thành đường nhờ chế ra sơn (lấy từ nhựa cây sơn), người ta dùng que chấm sơn vạch những đường đều nét lên thẻ tre, thẻ gỗ hay mảnh lụa. 3) Giai đoạn thứ ba là viết thành nét to nét nhỏ do đã chế ra bút lông, giấy và mực.

Từ đời Hán (206 tCn. - 220 sCn.), chữ Nho đã ổn định về kiểu chữ và loại nét. Cùng một chữ nhưng có nhiều kiểu viết: đại triện, tiểu triện, lệ thư, bát phân, chân thư, hành thư, thảo thư (hành thảo và cuồng thảo). Các nét dùng để cấu tạo chữ Nho gồm có 8 loại cơ bản: hoành (nét ngang), trực (nét sổ), phiệt (nét phẩy), nại (nét mác), câu (nét móc), chiết (nét gãy), khiêu (nét hất), điểm (nét chấm). Trong chữ Nho, có chữ do một nét tạo thành, có chữ lại gồm tới 40 nét nhưng vẫn được viết trong một ô vuông đều nhau. Các nét trong một chữ không viết tuỳ tiện mà phải theo quy tắc bút thuận, nếu sai quy tắc tức là viết "trái cựa". Muốn viết tám loại nét, TP có những yếu quyết về cầm bút lông và các cách điều khiển bút lông để thể hiện mỗi loại nét (gọi là gân bút, trong hội hoạ là "cốt pháp dụng bút"). Người Trung Hoa rất trân trọng công cụ để viết chữ và nâng thành "văn phong tứ bảo": bút lông, mực nho, nghiên mài mực và giấy. Những nơi sản xuất có tiếng là: bút Hồ Châu (Huzhou), mực Huy Châu (Huizhou), nghiên Triệu Khánh (Zhaoqing), giấy Tuyên Thành (Xuancheng). TP đòi hỏi trước hết phải tập luyện thành thục cách sử dụng bốn công cụ trên.

Kiểu chữ thảo ra đời muộn và nhanh chóng trở thành nghệ thuật được ưa chuộng do bay bướm đẹp mắt. Những nhà giỏi về TP Trung Hoa cổ còn được truyền tụng là: Trương Chi (Zhang Zhi) đời Hán được tôn làm "thảo thánh"; Vương Hy Chi (Wang Xizhi) đời Đông Tấn (Dongjin) nổi tiếng với thiếp Lan Đình ("Truyện Kiều" có lấy làm điển tích: "Khen rằng: Bút pháp đã tinh, So vào với thiếp Lan Đình nào thua"...); Âu Dương Tu (Ou Yangxiu), Tô Đông Pha (Su Dongpo), Mễ Phất (Mi Fu) đời Tống. TP và hội hoạ cổ Trung Hoa cùng dùng bút lông, mực và giấy, các phép câu thuận điểm trong hội hoạ rất gần với TP, do vậy có câu "thư hoạ đồng nguyên". TP là một nghệ thuật độc lập, đồng thời là một thành phần trong bố cục của hội hoạ cổ Trung Hoa. Nhiều hoạ gia nổi tiếng cả về vẽ và về TP: Tô Đông Pha, Mễ Phất đời Tống; Tề Bạch Thạch (Qi Baishi) thời nay. Ở Triều Tiên, Nhật Bản cũng đề cao TP. Khi thiết kế nội thất của các ngôi nhà cổ, người Nhật Bản đều dành một phòng để tiến hành "trà đạo", trên vách có một ngăn riêng để treo bức TP hay bức tranh. Ở Việt Nam, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến sinh thời được nhiều người đến xin chữ về treo trong nhà. TP là một nghệ thuật cao quý, để phô diễn khí phách tiết tháo của con người.