Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
TẢN ĐÀ

(tên thật: Nguyễn Khắc Hiếu; 1888 - 1939), nhà thơ Việt Nam. Quê: huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây (nay là huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây). Sau khi hỏng khoa thi cuối cùng, ông bắt đầu cộng tác với tờ "Đông Dương tạp chí", viết sách, mở thư điếm, thư cục, chủ trương tờ "An Nam tạp chí" (1926 - 33; đình bản 2 lần); cuối đời thì dịch sách. Tản Đà thuộc lớp nhà nho đầu tiên chuyên sống về nghề báo, nghề văn. Ông đọc nhiều tân thư, cố thích ứng với thời đại; trong tư tưởng có nhiều mâu thuẫn. Nhưng Tản Đà chủ yếu là một nhà thơ, và là nhà thơ lãng mạn nổi danh nhất trong 2 thập kỉ 20 và 30. Thơ Tản Đà nói lên đầy đủ tâm tư, tình cảm của người đương thời ở vào buổi phong trào cứu nước của sĩ phu thất bại, thực dân Pháp ra sức củng cố nền đô hộ. Tản Đà yêu đời, lo đời, yêu non sông gấm vóc, tha thiết với quê hương. Ông cũng không thể quên được cuộc sống hiện thực trước mắt; có những vần thơ đả kích bọn người vô liêm sỉ, hoặc thương cảm cho những số phận hẩm hiu, hoặc mỉa mai chính mình là người "nghèo khó", làm văn chương để kiếm sống mà "văn chương hạ giới lại rẻ như bèo". Tản Đà cũng là người đầu tiên dám nói về cái "tôi", dám phơi trần trái tim mình lên trang giấy một cách thành thực, hồn nhiên. Về phong cách, Tản Đà là nhà thơ sử dụng các thể thơ dân tộc nhuần nhuyễn hơn bất cứ ai. Ông cũng đã có ý thức từ lâu làm những bài thơ câu dài, câu ngắn, giàu nhạc điệu, giống "thơ mới". Khi phong trào "thơ mới" ra đời, các "nhà thơ mới" nhận ra ông là người "dạo những bản đàn mở đầu cho một cuộc hoà nhạc tân kì đương sắp sửa" (Hoài Thanh và Hoài Chân). Tác phẩm có "Khối tình con" I, II (1916), "Giấc mộng con I" (1917), "Thề non nước" (1932), "Giấc mộng con II" (1932), "Giấc mộng lớn" (1932), "Tản Đà văn tập" (1932), "Tản Đà văn tập" (1939 - 40), "Liêu Trai chí dị" (dịch; 1934), "Vương Thuý Kiều chú giải" (1940).