Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
TÀ ÔI

 

(cg. Pa Cô), tên tự gọi, đồng thời là tên dân tộc (Pa Cô có nghĩa là người ở miền núi cao) với những cách viết khác nhau: Tôi Ôi, Ta Hoi. Ở Việt Nam, có 3 nhóm địa phương: Pa Cô, Ca Tua (Can Tua, Tà Uốt, Cà Tang) và Ba Hi. Số dân 34.960 (1999). Cư trú tập trung ở hai tỉnh: Thừa Thiên - Huế (24.647 người) và Quảng Trị (10.179 người). Ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Môn - Khơ Me. Kinh tế làm rẫy, có truyền thống nuôi gia súc lớn để làm lễ hiến sinh và trao đổi hàng hoá. Nhóm Can Tua có nghề dệt vải. Ở nhà sàn dài, gồm nhiều gia đình có quan hệ họ hàng cùng cư trú. Làng (vel) có dạng hình tròn hoặc hình vành khăn. Hôn nhân một vợ một chồng, cư trú bên chồng, thực hiện ngoại hôn theo đơn vị huyết thống. Hôn nhân con cô con cậu được ưa thích. Đàn ông đóng khố, đàn bà mặc váy dài quá gối. Có tục cưa răng và xăm mặt, Trong xã hội có sự phân hoá giàu nghèo, đã xuất hiện lớp người đi ở như tôi tớ hay nô lệ (sol). Còn tàn dư của chế độ mẫu quyền. Trưởng họ có vai trò lớn trong đời sống cộng đồng. Tôn giáo nguyên thuỷ vẫn còn ảnh hưởng lớn trong xã hội (các hình thức ma thuật). Văn học, nghệ thuật dân gian phong phú. Lễ hội đâm trâu là nét độc đáo và đặc sắc của văn hoá dân tộc. Có nhiều đóng góp vào sự nghiệp dựng nước và giữ nước với tên tuổi các anh hùng lực lượng vũ trang như Hồ Vai, Kan Lịch, vv.

 

 

Người Tà Ôi