Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
VIỆT NAM

nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Diện tích lãnh thổ 330.992 km2. Dân số: 80.902.400 người (2003); dân thành thị 20%. Thành phần dân tộc: gồm 54 dân tộc, chiếm đa số là người Việt (Kinh) 86,2%; các dân tộc ít người chính: Tày 1,9%, Thái 1,7%, Mường 1,5%, Khơ Me 1,4%, Nùng 1,1%, Hoa 1,1% (1999). Tiếng nói chính thức: Tiếng Việt. Tôn giáo chính: đạo Phật, đạo Thiên Chúa, đạo Tin Lành, đạo Cao Đài, đạo Hoà Hảo. Thể chế: Cộng hoà xã hội chủ nghĩa. Đảng cầm quyền: Đảng Cộng sản Việt Nam; Cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất: Quốc hội, đứng đầu là chủ tịch Quốc hội; Nhà nước, đứng đầu là chủ tịch nước; Chính phủ, đứng đầu là thủ tướng Chính phủ. Thủ đô: Hà Nội. Đơn vị hành chính lớn nhất: 59 tỉnh và 5 thành phố trực thuộc Trung ương gồm: Hà Nội (3.007.000 người), Thành phố Hồ Chí Minh (5.554.700 người), Hải Phòng (1.754.100 người), Cần Thơ (1.112.800 người), Đà Nẵng (747.100 người). Đơn vị tiền tệ: đồng Việt Nam. Ngày quốc khánh: 2.9. Là thành viên Liên hợp quốc từ 1978, thiết lập quan hệ ngoại giao với 167 nước.

Địa lí: VN là một quốc gia ở vị trí trung tâm Đông Nam Á, phần lãnh thổ gắn vào Đông Nam Á lục địa, còn phần lãnh hải gắn vào Đông Nam Á hải đảo, ở phía đông bán đảo Trung - Ấn, với đường bờ biển dài tới 3.260 km từ Móng Cái đến Hà Tiên; thềm lục địa cùng với vùng đặc quyền kinh tế trên Biển Đông rộng khoảng 1 triệu km2, trong đó có rất nhiều đảo và quần đảo lớn: Cái Bầu, Cái Bàn, Cát Bà, Côn Đảo, Phú Quốc; xa bờ là hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trên đất liền có tới 3/4 diện tích là đồi núi, với đỉnh cao nhất Đông Nam Á là Phansipan (cg. Phan Si Păng) 3.143 m. Phía đông bắc thung lũng Sông Hồng là những cánh cung ôm lấy khối Núi Vòm Sông Chảy, mở về phía Hoa Nam và quy tụ tại dãy Tam Đảo. Phía tây nam thung lũng Sông Hồng cho tới thung lũng Sông Cả là những dãy núi và cao nguyên đá vôi chạy theo hướng tây bắc - đông nam. Từ thung lũng Sông Cả tới vùng Đông Nam Bộ là dải Trường Sơn, có nơi chạy ra sát biển và ôm lấy vùng Tây Nguyên rộng lớn với nhiều cao nguyên đất đỏ bazan. Đồng bằng chỉ chiếm 1/4 diện tích lãnh thổ nhưng lại là những châu thổ cửa sông phì nhiêu. Rộng nhất là đồng bằng Nam Bộ, thứ hai là đồng bằng Bắc Bộ, các đồng bằng duyên hải Trung Bộ nhỏ hẹp hơn.

Khí hậu VN mang tính chất nội chí tuyến gió mùa ẩm, thiên về tính chất chí tuyến ở phía bắc và tính chất á xích đạo ở phía nam. Nhiệt độ trung bình năm ở phía bắc khoảng 22 - 25oC do có mùa đông lạnh dài 3 tháng (tháng 12, 1, 2), gây nên bởi các khối khí cực đới biến tính (NPc) tràn xuống qua Trung Quốc, còn ở phía nam thì nóng quanh năm với nhiệt độ trung bình 25 - 27oC. Lượng mưa trung bình năm ở đồng bằng là trên 1.500 mm, ở vùng núi 2.000 - 3.000 mm. Tuy nhiên, do địa hình đồi núi phức tạp, tại vài nơi lượng mưa chỉ còn trên dưới 700 mm, điển hình là ở vùng Ninh Thuận - Bình Thuận, khiến cho tương quan nhiệt - ẩm ở VN cũng đa dạng, đi từ khô đến hơi khô, hơi ẩm và ẩm, tạo nên sự đa dạng trong lớp phủ thổ nhưỡng - thực vật. Do tác động của gió mùa, cả nước có hai mùa khô và mưa rõ rệt, kéo theo sông ngòi cũng có hai mùa cạn và lũ. Miền Bắc và Miền Nam có mưa từ tháng 5 đến tháng 10, còn mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4, riêng Miền Trung do tác động của dải núi Trường Sơn mà mùa mưa chậm lại, từ tháng 8 đến tháng 1 và mùa khô từ tháng 2 đến tháng 7.

Tính chất thuỷ văn VN phụ thuộc vào các đặc điểm của địa hình và khí hậu nói trên. Hướng chính của sông ngòi là tây bắc - đông nam và đổ ra Biển Đông. Mật độ sông suối dày đặc, trung bình gần 1 km/km2. Đa số sông là sông ngắn, diện tích lưu vực nhỏ. Các hệ thống sông lớn như Sông Hồng, Sông Mã, Sông Cả và nhất là sông Mêkông đều có diện tích lưu vực bên ngoài lãnh thổ. Hệ quả là trong tổng lượng nước trên mặt là 637 tỉ m3/năm thì phần sinh ra ở bên ngoài chiếm tới 64,5%. Nước ngầm ở VN cũng phong phú, tổng lượng nước lên tới 202 tỉ m3/năm, đồng thời phần sinh ra trong nước lại chiếm đa số, tới 55,5%.

Lớp phủ thổ nhưỡng - thực vật phản ánh tổng hợp nhất các điều kiện địa lí tự nhiên đồng thời có sự phân bố rõ rệt theo các đai cao, đặc trưng cho một nước nhiều đồi núi.

Tại đai nội chí tuyến gió mùa chân núi từ 0 m đến 600 m, phổ biến là nhóm đất feralit đỏ vàng dưới rừng rậm thường xanh ở nơi ẩm, rừng rậm nửa rụng lá ở nơi có mùa khô hoặc có mùa đông rét. Ở Miền Bắc, là rừng lim, sến, táu, bồ đề, thành ngạnh, xoan; ở Miền Nam, là rừng dầu rái, sao, huỳnh, dầu lông, dầu chai. Núi đá vôi có rừng nghiến, trai, đinh. Nơi có mùa khô dài xuất hiện rừng rậm rụng lá với loài sau sau ở Miền Bắc, săng lẻ ở Miền Nam. Riêng ở Ninh Thuận - Bình Thuận ít mưa lại có xa van rừng hay xa van cây bụi với me rừng, thành ngạnh, tre gai, găng trên đất nâu bán khô hạn. Ở bờ biển, trên đất mặn ngập thuỷ triều là rừng sú vẹt ở Miền Bắc, rừng đước vẹt ở Miền Nam. Nơi đất cao không ngập có rừng tràm trên đất phèn điển hình là ở U Minh. Trên các cồn cát ven biển là thảm cây bụi và cỏ cứng với xương rồng, dứa dại, muống biển, cỏ gừng, cỏ lông chông, còn phi lao là rừng trồng.

Tại đai á chí tuyến gió mùa trên núi từ 600 m đến 2.600 m với đất mùn feralit trên núi thấp và đất mùn alit trên núi trung bình có rừng rậm á chí tuyến ẩm thường xanh, rừng thưa á chí tuyến hơi ẩm lá kim và rừng rậm á chí tuyến ẩm hỗn giao. Ở Miền Bắc, ưu thế là dẻ, re, du sam, sa mu, pơ mu; ở Miền Nam, là thông ba lá.

Tại đai ôn đới gió mùa trên núi cao hơn 2.600 m, chỉ có trên dãy núi Hoàng Liên Sơn ở Tây Bắc, là các rừng hỗn giao đỗ quyên, thiết sam, lãnh sam. Đặc biệt trên đường đỉnh dốc, gió mạnh, đất mùn thô than bùn có kiểu rừng lùn với hoàng liên, hồng gai, sa thảo, cúc và trúc lùn, cây chỉ cao 1 - 2 m, còn thảm trúc chỉ 20 - 30 cm.

VN là một nước có tài nguyên đa dạng và phong cảnh đẹp. Khoáng sản đáng kể có dầu khí, than đá, than nâu, sắt, bauxit, thiếc, crom, apatit, vật liệu xây dựng, song trữ lượng không lớn so với thế giới. Phong phú nhất là tài nguyên sinh vật bao gồm rất nhiều loại lâm sản, nông sản, hải sản, đủ cho nhu cầu trong nước và còn dư thừa để xuất khẩu, như gỗ, gạo, rau quả, chè, hồ tiêu, cao su, tôm, cá, mực. Tài nguyên biển còn lớn nhưng chưa được thăm dò và khai thác hiệu quả. Trong các phong cảnh đẹp có hai nơi đã được công nhận là di sản thiên nhiên thế giới: vịnh Hạ Long và vùng núi đá vôi Phong Nha - Kẻ Bàng.

Lịch sử và văn hóa: Trên lãnh thổ VN hiện nay, khảo cổ học đã phát hiện được những di tích đá cũ và hoá thạch người Homo erectus cách ngày nay trên dưới 50 vạn năm và tiếp theo là các di tích hậu kì đá cũ rồi các giai đoạn phát triển của đồ đá mới. Cách ngày nay khoảng 4 - 5 nghìn năm, văn hoá hậu kì đá mới phân bố rộng khắp từ bắc chí nam, từ miền núi rừng đến đồng bằng châu thổ, từ đất liền đến hải đảo. Đây là lúc biển lùi và bắt đầu quá trình bồi tụ hình thành đồng bằng Sông Hồng, sông Cửu Long và các đồng bằng ven biển. Các lớp cư dân nguyên thuỷ từ miền đồi núi và chân núi tiến xuống khai phá vùng đồng bằng, phát triển nền nông nghiệp lúa nước.

Từ đầu thiên niên kỉ 2 tCn., VN bước vào thời đại kim khí, từ thời đại đồ đồng tiến lên sơ kì thời đại đồ sắt. Cuộc cách mạng luyện kim tạo nên những chuyển biến sâu sắc trong toàn bộ đời sống kinh tế xã hội của con người. Chế độ công xã nguyên thuỷ tan rã và trong thiên niên kỉ 1 tCn. cho đến những thế kỉ đầu Công nguyên, trên lãnh thổ Việt Nam hình thành những trung tâm văn minh và nhà nước đầu tiên. Đó là Văn hoá Đông Sơn với Nhà nước Văn Lang - Âu Lạc ở Miền Bắc, Văn hoá Sa Huỳnh với Nhà nước Chămpa ở Miền Trung và Văn hoá Óc Eo với Nhà nước Phù Nam ở Miền Nam. Trải qua tiến trình lịch sử lâu dài, ba dòng lịch sử - văn hoá thời cổ đại đó đã dần dần giao lưu và hội nhập tạo thành lịch sử - văn hoá Việt Nam mà tuyến Đông Sơn - Văn Lang, Âu Lạc giữ vai trò chủ lưu.

Cuối thế kỉ 2 tCn., nước Văn Lang - Âu Lạc của người Việt bước vào một thời kì thử thách vô cùng ác liệt. Đó là thời Bắc thuộc kéo dài hơn nghìn năm kể từ khi nước Âu Lạc bị Nam Việt xâm chiếm năm 179 tCn. rồi nhà Hán đô hộ từ năm 111 tCn. Vương quốc Chămpa cũng bị nhà Hán xâm chiếm. Người Việt liên kết lại trong các cộng đồng làng xã vốn mang tính tự trị cao để đấu tranh bảo tồn cuộc sống, chống lại các thủ đoạn đồng hoá của nước ngoài, đồng thời tiếp nhận những ảnh hưởng văn hoá Trung Quốc để tăng thêm tiềm lực của đất nước và từ đấy dấy lên các cuộc khởi nghĩa chống Bắc thuộc. Đó là cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng năm 40, khởi nghĩa Bà Triệu năm 248, khởi nghĩa Lý Bí năm 542, khởi nghĩa Mai Thúc Loan năm 720, khởi nghĩa Phùng Hưng cuối thế kỉ 8, vv. Cuối thế kỉ 2, nhân dân Chămpa cũng khởi nghĩa thành công, lập nên Vương quốc Chămpa độc lập. Đầu thế kỉ 10, cuộc đấu tranh của người Việt dẫn đến sự thành lập chính quyền tự chủ họ Khúc (905 - 930), họ Dương (931 - 937) và kết thúc bằng chiến thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng cuối năm 938 do Ngô Quyền tổ chức và lãnh đạo, chấm dứt hoàn toàn thời Bắc thuộc, mở ra một thời kì độc lập và phục hưng dân tộc từ thế kỉ 10 đến thế kỉ 15. Thời kì này bao gồm các vương triều Ngô (939 - 965), Đinh (968 - 979), Tiền Lê (980 - 1009), Lý (1009 - 1225), Trần (1226 - 1400), Hồ (1400 - 07) và Lê Sơ (1428 - 1527). Triều Ngô đóng đô ở Cổ Loa (Hà Nội). Triều Đinh và Tiền Lê đóng đô ở Hoa Lư (Ninh Bình), đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt. Triều Lý dời đô về thành Đại La (Hà Nội) và đổi tên là Thăng Long, đặt quốc hiệu là Đại Việt. Từ thời Lý trong điều kiện độc lập và thống nhất, công cuộc xây dựng đất nước được đẩy mạnh trên mọi lĩnh vực và đạt nhiều thành tựu to lớn. Nước Đại Việt với kinh đô Thăng Long trở thành một quốc gia độc lập và cường thịnh. Hai lần xâm lược của quân Tống (980 - 981, 1076 - 77), ba lần xâm lược của quân Mông - Nguyên (1258, 1285, 1287 - 88) đều bị đập tan. Từ 1397, triều Trần dời đô về Tây Đô (Thanh Hóa) và Thăng Long gọi là Đông Đô. Triều Hồ đặt quốc hiệu là Đại Ngu. Cuộc kháng chiến chống Minh (1406 - 07) do triều Hồ lãnh đạo bị thất bại, nhưng 20 năm sau, sự nghiệp giải phóng dân tộc giành thắng lợi với khởi nghĩa Lam Sơn (1418 - 27). Từ thế kỉ 10 đến 15, công cuộc phục hưng dân tộc đã mở ra một kỉ nguyên mới: kỉ nguyên văn minh Đại Việt mà trung tâm là Văn hoá Thăng Long.

Từ đầu thế kỉ 16, chế độ quân chủ tập quyền và quốc gia thống nhất bị khủng hoảng, đất nước lâm vào cảnh phân liệt Nam - Bắc triều, Đàng Ngoài - Đàng Trong và nội chiến Lê - Mạc (1533 - 92), Trịnh - Nguyễn (1627 - 72). Tuy nhiên trong từng vùng, nền kinh tế và văn hoá vẫn tiếp tục phát triển. Công cuộc khai phá được mở rộng về phía nam cho đến tận đồng bằng Cửu Long. Thế kỉ 16 - 17, kinh tế hàng hoá và quan hệ giao thương với nước ngoài phát triển mạnh dẫn đến sự phồn vinh của nhiều đô thị và cảng thị. Văn hoá dân tộc tiếp tục phát triển và mở rộng giao lưu với nhiều nước trong khu vực và một số nước phương Tây.

Từ giữa thế kỉ 18, khởi nghĩa nông dân bùng nổ mạnh ở Đàng Ngoài rồi Đàng Trong dẫn đến đỉnh cao là phong trào Tây Sơn cuối thế kỉ 18. Phong trào phát triển thành một cuộc đấu tranh rộng lớn của dân tộc, đánh bại cuộc xâm lược của quân Xiêm (1784 - 85) ở phía nam và quân Thanh (1788 - 89) ở phía bắc, xoá bỏ tình trạng chia cắt kéo dài trên hai thế kỉ.

Trong nửa đầu thế kỉ 19, triều Nguyễn (1802 - 1945) đã phục hồi chế độ quân chủ tập quyền, củng cố quốc gia thống nhất, phát triển kinh tế, mở mang văn hoá. Triều Nguyễn đóng đô ở Phú Xuân (Huế), Thăng Long trở thành trị sở của Bắc Thành (Bắc Bộ) và từ năm 1831 là trị sở của tỉnh Hà Nội. Quốc hiệu từ năm 1804 là Việt Nam, năm 1838 đổi là Đại Nam. Trong bối cảnh mới của thế giới thế kỉ 19 khi mà ở phương Tây, chủ nghĩa tư bản đang phát triển trên nền tảng văn minh công nghiệp và đang bành trướng dữ dội sang phương Đông, triều Nguyễn không đưa ra được những cải cách cần thiết để khắc phục tình trạng lạc hậu của đất nước, làm cho thế nước bị giảm sút, xã hội thiếu ổn định và cuối cùng thất bại trước cuộc xâm lược của thực dân Pháp (1858 - 84).

Trong thời Pháp thuộc (1884 - 1945), dưới sự thống trị của chủ nghĩa thực dân và tác động của các chính sách khai thác thuộc địa, ảnh hưởng của văn minh phương Tây, nền kinh tế, văn hoá, xã hội Việt Nam có nhiều chuyển biến theo hướng cận đại hoá, nhưng phát triển chậm chạp. Phong trào yêu nước tiếp diễn liên tục, từ phong trào Cần Vương trong hệ tư tưởng phong kiến cuối thế kỉ 19 chuyển sang những phong trào mang ảnh hưởng của tư tưởng dân chủ tư sản đầu thế kỉ 20 và từ năm 1930 do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Cách mạng tháng Tám 1945 thành công đã chấm dứt sự thống trị của chủ nghĩa thực dân, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và mở ra kỉ nguyên mới - kỉ nguyên độc lập, thống nhất và xây dựng lại đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Thắng lợi của Kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 54) và chống Mĩ (1954 - 75) đã hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc và thống nhất tổ quốc. Những năm 1975 - 85, đi theo mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung, cải tạo xã hội chủ nghĩa; từ năm 1986, bắt đầu công cuộc đổi mới nhằm đẩy mạnh sự nghiệp phục hưng dân tộc, đưa đất nước vào tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế thế giới.

Qua tiến trình lịch sử lâu dài đó, cộng đồng các dân tộc Việt Nam đã sáng tạo nên nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, biểu thị sự thống nhất trong tính đa dạng. VN là một quốc gia đa tộc người, hiện nay gồm 54 tộc người (thường gọi là dân tộc) thuộc 4 ngữ hệ chính: Nam Á, Thái (hay Thái - Kadai), Mã Lai - Đa Đảo (Malayo - polynésien hay Nam Đảo) và Hán - Tạng, trong đó dân tộc Việt (Kinh) là dân tộc đa số chiếm 86,2% dân số. Mỗi dân tộc có vốn văn hóa riêng của mình, góp phần tạo nên sự phong phú, đa dạng của văn hóa VN. Nằm trên vị trí đông nam của lục địa Châu Á, vừa nối liền với đại lục bằng những hệ thống giao thông tự nhiên, vừa nhìn ra đại dương với bờ biển dài, VN là nơi gặp gỡ của nhiều luồng thiên di cư dân, nơi giao thoa của nhiều nền văn hóa. Trong lịch sử, trên nền tảng văn hóa bản địa gắn liền với cơ tầng văn hóa Đông Nam Á, VN sớm giao lưu và tiếp nhận nhiều ảnh hưởng văn hóa nước ngoài từ văn hóa Trung Quốc ở phía bắc, văn hóa Ấn Độ ở phía nam trong thời cổ đại, trung đại cho đến văn hóa phương Tây từ thế kỉ 16, 17. Địa hình đa dạng của đất nước cũng tạo nên nhiều vùng địa - văn hóa phong phú từ bắc vào nam, từ vùng đồng bằng ven biển đến vùng trung du và núi rừng, cao nguyên phía tây. Tất cả những đặc điểm về cấu trúc tộc người, vị trí địa lí, giao thoa và hỗn dung văn hóa đó, qua quá trình lịch sử đã quy định tính đa dạng của văn hóa VN. Nhưng mặt khác, cộng đồng các dân tộc VN lại sớm chung sống trong một đất nước mà do yêu cầu khai phá đất đai và làm thủy lợi của nền nông nghiệp lúa nước kết hợp với yêu cầu đoàn kết chống ngoại xâm nên phải cố kết lại trong một quốc gia - dân tộc thống nhất. Độc lập dân tộc gắn liền với thống nhất quốc gia là một đặc điểm mang tính chi phối của lịch sử VN. Chính đặc điểm này đã tạo nên ý thức dân tộc, truyền thống yêu nước sâu sắc của cộng đồng các dân tộc VN và quy định tính thống nhất trong sự đa dạng của văn hóa VN.

Văn hóa truyền thống VN dựa trên nền tảng kinh tế nông nghiệp lúa nước và kết cấu xã hội của cộng đồng xóm làng (quan hệ láng giềng) kết hợp với họ hàng (quan hệ huyết thống). Đó là nền văn hóa - văn minh lúa nước và xóm làng. Trong thời Pháp thuộc, quá trình cận đại hóa đã bắt đầu với sự xuất hiện một số cơ sở công nghiệp khai thác và chế biến cùng sự đô thị hóa theo mô hình phương Tây của một số thành thị lớn nhưng diễn biến chậm chạp, yếu ớt và chưa làm thay đổi nền tảng văn minh nông nghiệp mang tính chất thủ công và sản xuất nhỏ. Cùng với những thành công của công cuộc đổi mới, ngày nay VN đang bước vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, trên cơ sở đó nền văn hóa - văn minh truyền thống VN cũng đang chuyển mình sang nền văn hóa - văn minh hiện đại, vừa bảo tồn và phát huy di sản văn hóa truyền thống, giữ gìn bản sắc dân tộc, vừa tiếp nhận những giá trị và thành tựu hiện đại của văn minh nhân loại.

Kinh tế hiện nay:

1) Sau khi thống nhất đất nước, để khôi phục nền kinh tế bị chiến tranh tàn phá, Đại hội IV của Đảng Cộng sản Việt Nam (12.1976) đề ra nhiệm vụ đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện tập thể hoá nông nghiệp, cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với kinh tế tư bản tư nhân, hợp tác hoá thợ thủ công, hạn chế kinh tế tư nhân trong sản xuất và thương mại. Mô hình đó vận hành theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu, bao cấp đã tỏ ra kém hiệu quả, nền kinh tế tăng trưởng chậm, trong những năm 1979 - 85 đã lâm vào khủng hoảng. Lạm phát cao, đời sống nhân dân rất khó khăn. Hội nghị Trung ương 6 (khoá IV) (9.1979) đã bắt đầu những cải cách kinh tế có giới hạn ở tầm vi mô (xí nghiệp, hợp tác xã) chỉ đem lại kết quả hạn chế, nhất thời. Tình hình kinh tế đòi hỏi những cải cách cơ bản hơn mới thoát khỏi khủng hoảng.

2) Giai đoạn đổi mới (1986 đến nay): Đại hội VI (12.1986) của Đảng đưa ra chủ trương đổi mới cơ bản, trước hết là đổi mới tư duy và cơ chế quản lí kinh tế, xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần. Qua Đại hội VII (6.1991), Đại hội VIII (6.1996), đến Đại hội IX (4.2001), nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được khẳng định là mô hình kinh tế tổng quát trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, với nội dung cơ bản của đổi mới kinh tế là: phát triển nền kinh tế nhiều thành phần thông qua đổi mới doanh nghiệp nhà nước, đổi mới kinh tế hợp tác, phát triển kinh tế cá thể, tư nhân và các loại hình sở hữu hỗn hợp thu hút đầu tư nước ngoài; điều chỉnh cơ cấu kinh tế cho phù hợp với trình độ phát triển kinh tế; đổi mới cơ chế quản lí kinh tế theo hướng "xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, hình thành cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa"; mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Sau gần 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, nền kinh tế đã có những chuyển biến quan trọng.

a) Nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao: từ 1987 đến 2003, tăng trưởng bình quân 7%/năm; năm 2003 đạt 7,24%/năm. Lạm phát được kiềm chế và đẩy lùi, từ 3 con số (1986) giảm xuống còn 1 con số. Sản xuất nông nghiệp đã có bước phát triển, sản xuất lương thực chuyển đổi cơ cấu sản lượng phù hợp với yêu cầu thị trường, từ 21,5 triệu tấn (1990) lên 37,5 triệu tấn (2003). Từ một nước thiếu lương thực trước 1989, trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới. Sản xuất công nghiệp tăng trưởng liên tục, nhiều sản phẩm công nghiệp như điện, than, vải, thép, xi măng... tăng nhanh, đáp ứng tốt hơn nhu cầu sản xuất, đời sống và xuất khẩu; chất lượng nhiều sản phẩm được nâng cao, bước đầu đã đứng vững trong cạnh tranh trên thị trường trong nước và xuất khẩu. Năm 2003, điện 41.117 triệu kW.h, than sạch 18.962,7 nghìn tấn, dầu thô 17.690 nghìn tấn, xi măng 23.282,4 nghìn tấn, thép cán 2.682,2 nghìn tấn, phân hoá học 1.275,8 nghìn tấn, vải lụa 475,9 triệu mét, vv.

b) Cơ cấu kinh tế chuyển dịch từng bước theo hướng tiến bộ:

- Cơ cấu ngành kinh tế chuyển dịch theo hướng khu vực I giảm, khu vực II và III tăng. Cơ cấu GDP theo các khu vực I, II, III (%) năm 1987 là 40,56; 28,36; 31,08 thì năm 2003 là 21,8; 39,97; 38,23. Tuy nhiên, việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất trong nội bộ các ngành không đều. Trong nông nghiệp, sự chuyển đổi có tiến bộ: tỉ trọng trồng trọt giảm, tỉ trọng chăn nuôi tăng (từ 17% năm 2000 lên 20% năm 2003). Thuỷ sản phát triển mạnh, đạt 1,15 triệu tấn nuôi trồng và 1,9 triệu tấn đánh bắt, khai thác (2004). Trong công nghiệp: công nghiệp tăng trưởng chủ yếu là dựa vào các ngành gia công nguyên liệu cho nước ngoài và ngành khai thác tài nguyên, khoáng sản như than đá, dầu mỏ, khí đốt. Năm 2003, tốc độ tăng trưởng của công nghiệp là trên 16% nhưng chỉ đóng góp 3,86% trong tốc độ tăng GDP 7,24%.

- Cơ cấu các thành phần kinh tế đã có sự chuyển dịch từ chủ yếu là quốc doanh, hợp tác xã sang nhiều thành phần, nhưng tỉ trọng kinh tế quốc doanh vẫn còn cao. GDP do các doanh nghiệp tư nhân tạo ra ngày càng lớn, chiếm 35,9% (2003); đầu tư nước ngoài đóng góp 13,5% GDP. Vốn đầu tư phát triển tăng nhanh: năm 2003 so với 1996 tăng xấp xỉ 2,5 lần.

- Cơ cấu vùng kinh tế đã có sự chuyển dịch theo hướng hình thành ba vùng kinh tế trọng điểm Bắc, Trung, Nam và các vùng kinh tế có vai trò đầu tàu cho sự phát triển chung của cả nước với 68 khu công nghiệp, khu chế xuất tập trung thu hút được vốn đầu tư của nước ngoài và tư nhân trong nước. Đây là những mô hình mới trong nền kinh tế thời kì đổi mới ở nước ta.

c) Kinh tế đối ngoại phát triển nhanh, mở rộng về quy mô, đa dạng hoá hình thức và đa phương hoá thị trường. Năm 2003, có quan hệ buôn bán với 221 nước và vùng lãnh thổ ở cả năm châu lục, trong đó xuất khẩu tới 214 nền kinh tế, nhập khẩu từ 151 nền kinh tếnước. Quy mô xuất khẩu liên tục tăng và năm 2003 đạt mức cao nhất từ trước tới nay (19.880 triệu USD, gấp hơn 9,5 lần năm 1991). Kim ngạch xuất khẩu bình quân đầu người đạt 264,4 USD. Mặt hàng xuất khẩu đã gia tăng về số loại, số lượng và cơ cấu; đến năm 2003 đã có 17 mặt hàng chủ lực đạt trên 100 triệu USD, tỉ trọng hàng công nghiệp và tiểu - thủ công nghiệp tăng, hàng nông, lâm, thuỷ sản giảm. Song nhập siêu còn lớn và gia tăng.

d) Cơ chế quản lí kinh tế mới đã bước đầu được hình thành. Trước đây Nhà nước quản lí kinh tế - xã hội chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính và kế hoạch hoá tập trung bằng hiện vật thì từ khi đổi mới đến nay, pháp luật quản lí đã sử dụng nhiều hơn các công cụ gián tiếp. Thể chế của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã từng bước thay thế thể chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp trước đây, đồng thời tạo cơ sở pháp lí cho việc đổi mới toàn diện đất nước. Tuy vậy cải cách còn chậm, các thể chế kinh tế thị trường chậm được hình thành, cải cách hành chính chưa đem lại hiệu quả. Tham nhũng lãng phí còn nghiêm trọng. Năng lực cạnh tranh còn thấp.

Sau những năm đổi mới, nền kinh tế VN đã khởi sắc, đang đứng trước cơ hội lớn và nhiều thử thách. GDP tăng nhanh nhưng chưa đạt được 40 tỉ USD, GDP bình quân đầu người đạt khoảng 482 USD mới chỉ bằng 65% mức nghèo theo chuẩn mới (2 USD/ngày), theo sức mua tương đương chỉ đạt khoảng 2.200 USD đứng dưới thứ 130 thế giới, bằng trên 60% mức bình quân của khu vực, nghĩa là VN còn là một nước nghèo chậm phát triển, quy mô kinh tế nhỏ.

Việt Nam