Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
VĂN LANG

tên nước đầu tiên trong lịch sử Việt Nam. Theo truyền thuyết, trong số 100 con trai của Lạc Long Quân - Âu Cơ, 50 người theo mẹ lên núi cùng suy tôn người con cả lên làm vua, hiệu là Hùng Vương, đặt tên nước là VL, đóng đô ở Phong Châu. Trong "Đại Việt sử kí toàn thư" (1479), Ngô Sĩ Liên lần đầu tiên đưa các truyền thuyết này vào chính sử trong "Kỉ họ Hồng bàng" của phần "Ngoại kỉ" và đối sánh với Bắc sử, cho rằng Kinh Dương Vương ngang với Đế Nghi khởi đầu năm 2878 tCn., do đó kỉ Hồng Bàng gồm Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân và Hùng Vương từ năm 2878 đến 256 tCn., tổng cộng 2622 năm. Từ đây hình thành quan niệm dân gian coi nước Văn Lang đời Hùng Vương ra đời cách ngày nay khoảng 4000 năm.

Theo kết quả nghiên cứu khoa học gần đây, trước hết là khảo cổ học, thời kì cách ngày nay khoảng 4000 năm tương ứng với giai đoạn văn hoá Phùng Nguyên ở vùng trung du và đồng bằng Sông Hồng, thuộc sơ kì thời đại đồ đồng. Lúc bấy giờ nền kinh tế dựa chủ yếu vào công cụ đá, phân hoá xã hội hầu như chưa có, nên chưa có đủ tiền đề cần thiết cho sự hình thành nhà nước. Nhiều nhà sử học cho rằng nước VL, hiểu theo nghĩa là nhà nước sơ khai, chỉ có thể ra đời trong giai đoạn văn hoá Đông Sơn thuộc kì phát triển cao của đồ đồng và đã chuyển sang sơ kì đồ sắt trong thiên niên kỉ 1 tCn., có thể vào khoảng giữa thiên niên kỉ đó, "Đại Việt sử lược" là tác phẩm sử học xưa nhất còn lại đến nay, chép rằng nước VL do Hùng Vương thành lập vào khoảng đời Trang Vương nhà Chu (696 - 682 tCn.) trên cơ sở hợp nhất 15 bộ lạc. Niên đại ra đời của nước VL vào thế kỉ 7 tCn. được chép trong "Đại Việt sử lược" là phù hợp với kết quả nghiên cứu khoa học hiện nay.

Địa bàn của nước VL bao gồm vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ hiện nay. Cư dân là người Việt cổ mà trong thư tịch cổ Trung Hoa gọi là người Lạc Việt. Cơ sở kinh tế chủ yếu là nông nghiệp lúa nước và tuỳ theo điều kiện tự nhiên từng vùng, kết hợp với các ngành nghề kinh tế phù hợp như chăn nuôi, săn bắn, đánh cá, các nghề thủ công như nghề gốm, mộc, đan lát, dệt, đúc đồng, luyện sắt, vv. Phân hoá xã hội diễn tiến theo xu hướng gia tăng với sự xuất hiện ba tầng lớp xã hội: quý tộc, bình dân và nô tì. Tầng lớp bình dân là thành viên các công xã nông thôn mà trong tiếng Việt cổ gọi là chạ hay chiềng. Tổ chức nhà nước còn đơn sơ, đứng đầu là Hùng Vương, dưới chia làm 15 bộ vốn là vùng cư trú của 15 bộ lạc và tổ chức xã hội cơ sở là công xã nông thôn kết hợp quan hệ láng giềng (làng xóm) với quan hệ huyết thống (họ). Toàn bộ sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội đã tạo lập nên nền văn minh Sông Hồng mà di vật tiêu biểu là trống đồng Đông Sơn nổi tiếng.

Sự hình thành nước VL đánh dấu một bước chuyển biến lớn lao trong tiến trình lịch sử, mở đầu và đặt nền tảng bền vững cho quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.