Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
DƯƠNG LỊCH

hệ lịch lấy năm Xuân phân làm cơ sở. Trong lịch sử đã có các loại DL sau: 1) Lịch cổ Ai Cập: loại DL đầu tiên, xuất hiện trước Công nguyên vài nghìn năm tại Ai Cập cổ đại. Nhờ quan sát sự xuất hiện của sao Thiên Lang vào sáng sớm đã xác định năm Xuân phân dài 365 ngày, chia thành 12 tháng, mỗi tháng 30 ngày, còn 5 ngày để vào cuối năm. 2) Lịch Juliut (cg. cựu lịch): được dùng từ 46 tCn. ở La Mã, do Juliut Xêza (Julius Ceazar) đề xướng, dựa trên các tục lệ cổ ở La Mã, sau đó được phổ biến rộng ra khắp Châu Âu. Độ dài của năm Xuân phân được xác định là 365,25 ngày nên cứ sau 3 năm thường mỗi năm 365 ngày thì có một năm nhuận 366 ngày. Năm nhuận được đặt vào các năm có niên số chia hết cho 4. Mỗi năm có 12 tháng, tháng thiếu 30 ngày, tháng đủ 31 ngày, riêng tháng hai có 28 ngày (năm nhuận có 29 ngày). Được dùng đến năm 1582. 3) Lịch Gregôriut (Gregorius; tân lịch) được dùng từ 15.10.1582 đến nay, do giáo hoàng Gregôry XIII (Gregory XIII) đề xướng. Độ dài của năm Xuân phân được xác định chính xác hơn, bằng 365,2425 ngày, vì thế đến thời điểm áp dụng lịch Gregôriut thì thời gian theo lịch Juliut đã chậm đi 10 ngày. Để loại trừ sai, lịch đó đã quy định: sau ngày 4.10.1582 là ngày 15.10.1582 và sửa đổi lại chu kì nhuận: 400 năm chỉ có 97 năm nhuận là những năm có niên số chia hết cho 4, trừ những năm chẵn thế kỉ không chia hết cho 400, vd. các năm 1600, 2000 là năm nhuận nhưng những năm 1700, 1800, 1900 không nhuận. DL có ưu việt là dựa trên năm Xuân phân nên có cách tính thuận tiện, đơn giản, nhưng ưu việt cơ bản nhất là phản ánh đúng chu trình thời tiết trong năm (do năm Xuân phân chính là chu kì chuyển động của Trái Đất quanh Mặt Trời, chuyển động tạo nên chu trình thời tiết Trái Đất). Do vậy, DL được dùng cả ở những nước vốn vẫn dùng âm lịch hoặc âm - dương lịch và ngày nay được dùng rộng rãi trên thế giới. DL được dùng ở Việt Nam từ cuối thế kỉ 19, ngày nay đã trở thành chính thức. Xt. Âm dương lịch; Năm.