Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
CHIẾN TRANH THẾ GIỚI II (1939 - 45)

cuộc chiến tranh lớn nhất trong lịch sử loài người từ trước tới nay, do phát xít Đức, Ý (tức Italia) và quân phiệt Nhật phát động, lúc đầu mang tính chất chiến tranh đế quốc, sau trở thành chiến tranh chống phát xít, giữa hai liên minh quốc gia là phe Trục (Đức - Ý - Nhật) và phe Đồng minh (Mĩ - Anh - Pháp - Liên Xô - Trung Quốc), diễn ra trên 4 châu lục và 4 đại dương, liên quan đến 72 quốc gia, 1,7 tỉ người, tổng số quân tham chiến 110 triệu. Từ trước khi nổ ra chiến tranh, các nước Đức, Ý, Nhật đã tiến hành một số cuộc chiến tranh chuẩn bị: Nhật xâm lược Trung Quốc [x. Vụ Lư Cầu Kiều (7.7.1937)], Ý xâm lược Êtiôpia (1936) và Anbani (4.1939), Đức thôn tính Áo (1938) và Tiệp Khắc (1939). CTTG II (1939 - 45)  thực sự bắt đầu bằng việc Đức xâm lược Ba Lan (1.9.1939) (đó là cuộc Chiến tranh Đức - Ba Lan 1939, còn gọi là "Chiến tranh kì quặc"). [X. Chiến tranh Đức - Ba Lan (1939)]. Để cải thiện thế chiến lược của mình, Liên Xô đưa quân vào các vùng tây Ukraina, tây Bêlarut, Becxarabia (Bessarabija), Bukôvina (Bukovina), vùng Bantich (Baltique) và vào Phần Lan nhằm chặn thế tiến công của Đức về phía đông. Sau đó, Đức chiếm các nước Bắc Âu và Tây Âu (Đan Mạch 4.1940; Na Uy 6.1940; Hà Lan 5.1940; Bỉ 5.1940 và nửa bắc nước Pháp 6.1940); tiến hành chiến dịch Na Uy (4 - 6.1940), buộc một số nước Trung Âu phải phục tùng và hợp tác với Đức (Rumani 10.1940; Hungari 11.1940; Bungari 3.1941). Chính phủ Pháp bại trận xin rút khỏi chiến tranh (6.1940), chịu để Đức chiếm đóng. Tuy vậy, ở Luân Đôn, Đơ Gôn (De Gaulle) vẫn thành lập một chính phủ "Nước Pháp tự do" (6.1940). Đức dùng không quân tàn phá nước Anh, nhưng do tổn thất lớn và ý đồ chuyển chiến tranh sang phía đông nên phải bỏ dở. Để chuẩn bị chuyển sang một giai đoạn mới, Đức đánh chiếm Bắc Phi (thay Ý, 1941), Nam Tư (4.1941), Hi Lạp (4.1941). Sau khi tạo được thế chiến lược có lợi, tháng 6.1941, Đức tiến công Liên Xô. Đến đây chiến tranh đế quốc đã chuyển biến thành chiến tranh chống phát xít. Trong vòng nửa năm, Đức đã tiến đến tuyến Lêningrat (Leningrad; 7.1941), tây Matxcơva (10.1941), Rôxtôp (Rostov; 11.1941). Nhưng chỉ đến đây, chiến tranh chớp nhoáng của Đức đã bị chặn lại và Kế hoạch "Bacbarôxa" đã cơ bản thất bại (12.1941) (x. "Bacbarôxa"). Trên chiến trường Châu Á, chiến tranh Trung - Nhật phát triển chậm: đến cuối 1941, Nhật Bản mới chiếm được vùng đông bắc Trung Quốc và một dải hẹp ở ven biển, mặc dù đã được Pháp chịu cho sử dụng bàn đạp Đông Dương. Tháng 12.1941, Nhật Bản tiến công Trân Châu Cảng đồng thời mở rộng chiến tranh xuống Đông Nam Á, chiếm bán đảo Mã Lai (Malai; 2.1942), Hồng Kông (Hongkong; 12.1941), Inđônêxia (3.1942), Philippin (5.1942) và một số đảo khác của Mĩ ở Thái Bình Dương. Thái Lan tham gia chiến tranh Thái Bình Dương về phía Nhật Bản (1942). Các trận tiến công thắng lợi của Nhật Bản ở Thái Bình Dương kết thúc vào giữa 1942 với trận đổ bộ lên Alêuxiên (Aleutian; 6.1942). Nhật Bản bắt đầu thất bại ở Goađơncơnơn (Guadalcanal; cuối 1942). Cũng từ giữa 1942, các cuộc tiến công của phe Trục ở Châu Âu và Bắc Phi đều bị chặn lại. Từ cuối 1942, phe Đồng minh bắt đầu phản công rồi tiến công, bắt đầu bằng trận phản công trong Chiến dịch Xtalingrat (Stalingrad; 17.7.1942 - 22.2.1943), cuộc đổ bộ lên Bắc Phi trong Chiến cục Bắc Phi (11.1942) và chiếm lại các đảo Goađơncơnơn trong Chiến cục Goađơncơnơn (2.1943), Alêuxiên (5 - 8.1943). Với Chiến cục Ý (7.1943), khối Trục bắt đầu rạn nứt, Ý rút khỏi chiến tranh (9.1943, phát xít Ý sụp đổ và đầu hàng). Chiến tranh chuyển sang giai đoạn tiến công của phe Đồng minh và phát triển mau lẹ. Đến giữa 1944, quân Đức đã bị đuổi ra khỏi lãnh thổ Liên Xô. Quân Anh - Mĩ đổ bộ lên bắc Pháp (6 - 7.1944) và nam Pháp (8.1944), mở mặt trận thứ hai ở Châu Âu (x. Mặt trận Thứ hai). Từ đây, Mĩ - Anh kết hợp với lực lượng nội địa Pháp giải phóng Pháp (11.1944), Bỉ (9.1944), Hà Lan (11.1944) và đánh chiếm miền tây nước Đức đến bờ sông Enbơ (Elbe) 5.1945. Trong khi đó, tại mặt trận phía đông, quân đội Liên Xô phối hợp với nhân dân và quân đội cách mạng các nước sở tại đã giải phóng Rumani (8.1944), Bungari (9.1944), Nam Tư (10.1944), Ba Lan (2.1945), Hungari (2.1945), Áo (4.1945), Tiệp Khắc (5.1945) và chiếm miền Đông nước Đức kể cả Beclin đến sông Enbơ. Hi Lạp được Đồng minh giải phóng 11.1944, còn Anbani tự giải phóng (11.1944). Chiến tranh trên chiến trường Châu Âu kết thúc 8.5.1945 với sự đầu hàng vô điều kiện của Đức. Trên chiến trường Thái Bình Dương, tiến công chiến lược của Anh - Mĩ cũng bắt đầu từ giữa 1944, giải phóng dần các đảo từ phía đông. Đến hết 1944, đã giải phóng Niu Ghinê và một số đảo của Philippin; sau đó lần lượt giải phóng Miến Điện (tức Myanma; 5.1945), Philippin (5.1945) chiếm đảo Iô Jima (Iō Jima; 3.1945) và Ôkinaoa (Okinawa; 6.1945). Ngày 6.8.1945, Mĩ ném quả bom nguyên tử đầu tiên xuống Hirôsima (Hiroshima; Nhật Bản). Ngày 8.8.1945, Liên Xô tuyên chiến với Nhật. Ngày 9.8.1945, Mĩ ném quả bom nguyên tử thứ hai xuống Nagaxaki (Nagasaki; Nhật Bản). Cũng từ 9.8.1945, quân đội Liên Xô tiến công đội quân Quan Đông tinh nhuệ của Nhật. Chỉ trong vòng 2 tuần lễ, toàn bộ đội quân thiện chiến này (750 nghìn người) bị đánh tan phải đầu hàng (17.8.1945). Quân đội Liên Xô cùng Quân giải phóng Trung Quốc giải phóng toàn bộ đông bắc Trung Quốc và cùng với lực lượng cách mạng Triều Tiên giải phóng Bắc Triều Tiên. Tiếp sau đó Liên Xô giải phóng đảo Xakhalin (Sakhalin) và quần đảo Kurin (Kuril'; 8.1945). Nhật Bản chịu chấp nhận đầu hàng vô điều kiện (15.8) và kí văn bản đầu hàng 2.9.1945.

CTTG II (1939 - 45) đã làm chết gần 55 triệu người, trong đó nhiều nhất là ở Liên Xô (22 triệu), rồi đến Đức (15 triệu), Ba Lan (6 triệu), Nhật (1,8 triệu), Nam Tư (1,6 triệu)... Tổn hại vật chất lên đến 316 tỉ đôla. Vấn đề Đức được giải quyết theo Hội nghị Pôtxđam (x. Hội nghị Pôtxđam 1945), còn với Nhật có Hội nghị Xan Franxixcô (San Francisco) (1951) (x. Hoà ước Xan Franxixcô 1951). Tuy CTTG II (1939 - 45) kết thúc nhưng nhiều vấn đề quan trọng về bảo vệ hoà bình, toàn vẹn lãnh thổ, quyền tự quyết dân tộc... chưa được giải quyết triệt để.