Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
CÁ CẢNH

cá nuôi nhằm mục đích làm cảnh, giải trí. Do có hình dáng, màu sắc kì thú, kích thước thường không lớn, có thể gây nuôi trong bể nhỏ, hay trong bình, chậu thuỷ tinh, đặt trong nhà hoặc ngoài sân. Nhiều loài có nguồn gốc ở các vực nước ngọt nhiệt đới và cận nhiệt đới, thuộc các bộ: Cá chép (Cypriniformes), Cá vược (Perciformes), vv. Qua quá trình thuần hoá và chọn lọc lai tạo lâu đời, đã có hàng trăm loài có giá trị thẩm mĩ cao. Nghề nuôi CC đã có từ xưa ở các nước Đông Á và Đông Nam Á. Ở Việt Nam, nhiều địa phương như Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh đã duy trì và phát triển nghề này, gần đây đã có nhập nhiều loài CC mới. Một số loài còn được nuôi để diệt bọ gậy hoặc dùng làm đối tượng nghiên cứu sinh học (di truyền, sinh hoá, phỏng sinh học). Một số loài CC phổ biến: cá vàng, cá bướm, cá bốn mắt, cá chọi, cá đĩa, cá đuôi cờ, cá khổng tước, cá kiếm, cá mã giáp, cá ngựa vằn, cá thần tiên, vv.

Cá vàng (Carassius auratus), loài cá giếc bạc họ Cá chép (Cyprinidae), gồm nhiều chủng. Có cá vàng đầu sư tử, cá vàng mắt lồi, cá vàng kính thiên lí, cá vàng hướng thiên (mắt lồi tập trung về phía đầu), cá vàng đuôi voan (vây phát triển, to xoè, rủ xuống), cá vàng sao chổi (đuôi rất dài, gấp 3 - 4 lần chiều dài thân), vv. có màu từ vàng nhạt đến vàng đỏ, đôi khi đen, bạc. Nhiệt độ nước thích hợp 18 - 30 oC. Thức ăn thường là giun bùn, có thể luyện cho ăn cơm, bỏng, vv. Đẻ trứng nhỏ, dính vào rong, cỏ. Cá vàng có nguồn gốc ở Châu Á, được đưa sang Châu Âu từ thế kỉ 17.

Cá bướm (Pantodon buchholtzii), họ Pantodontidae, có đôi vây ngực rất to, màu hồng, với tia đỏ như đôi cánh bướm. Có thể vọt lên khỏi mặt nước và bay 2 - 3 m trong không khí. Thân dài 10 - 13 cm. Bụng trắng, lưng xanh hay xám sẫm, mắt có ánh đỏ, miệng to, nhiều răng nhỏ và nhọn. Vây bụng nằm dưới vây ngực, có bốn tua dài. Ăn động vật. Nhiệt độ thích hợp 25 - 30 oC. Sinh sản ở 26 oC. Thụ tinh trong, đẻ trứng dính vào rong, cỏ. Nguồn gốc Tây Phi xích đạo (các sông đổ ra vịnh Ghinê). Bể nuôi cần rộng và có lưới đậy. Một số loài CC thuộc họ Cá chép (Cyprinidae) cũng gọi là cá bướm.

Cá bốn mắt (Anableps tetraphthalmus), họ Anablepidae, bộ Cá sóc (Cyprinodontiformes). Thân thon, dài 15 - 30 cm. Hai mắt rất lồi. Thích nghi với đời sống sát mặt nước. Khi bơi, phần trên mắt ở trên mặt nước, phần dưới chìm trong nước, nên thấy được cả phía trên và dưới nước, vì vậy có tên cá bốn mắt. Đẻ con, thụ tinh trong, đẻ mỗi lần 1 - 5 con dài 4 - 6 cm. Sống ở vùng đầm phá, gốc Trung Mĩ và Bắc Nam Mĩ.

Cá chọi (Betta splendens), họ Cá rô (Anabantidae). Thân dài 6 - 10 cm. Vây phát triển rộng. Màu thân có nền đỏ hoặc xanh. Ăn động vật (giun). Nhiệt độ thích hợp: 16 - 32 oC. Đến mùa sinh sản, cá đực làm tổ bằng bọt khí và chất nhờn tiết ra từ miệng. Khi cá cái đẻ, cá đực hút trứng đưa về tổ, bảo vệ trứng và cá con mới nở. Cá chọi đánh nhau rất hăng (có khi đến chết). Có hai chủng chính: cá chọi xanh và đỏ. Có chủng bạch tạng màu vàng kem. Nguyên sống ở vùng nước ngọt nông phía nam Ấn Độ và Đông Nam Á (Việt Nam, Thái Lan, Malaixia, Inđônêxia).

Cá đĩa (Symphysodon), họ Cá rô phi (Cichlidae). Thân nhìn ngang tròn như cái đĩa dựng đứng, mình mỏng, đầu to. Vây lưng và vây ngực cao, rìa đỏ, phủ dài suốt thân; vây đuôi ngắn. Toàn thân có 6 - 9 vạch ngang sẫm; màu nền thay đổi tuỳ loài: thường có màu đỏ hoặc xanh dương, lục, nâu, nâu đỏ, vv. Môi trường sống thích hợp: nước có pH 5 - 6,5, nhiệt độ 22 - 26 oC, ưa ẩn dưới bóng cây. Đẻ trứng. Cá con mới nở bám theo bố mẹ để ăn nhớt da, do đó không nên tách bố mẹ sớm. Cá đĩa có nguồn gốc ở Nam Mĩ, được xem là "nữ hoàng cá cảnh" ở Hoa Kì; cg. cá ngũ sắc thần tiên.

Cá đuôi cờ (Macropodus opercularis; tk. cá rô thia, săn sắt, tiên cung, cá cờ), loài CC họ Cá rô (Anabantidae). Thân dài 8 - 10 cm, hình bầu dục dài, phủ vẩy lược lớn, có 8 - 11 vạch ngang màu sặc sỡ xen vạch xanh. Vây to, dài; tia thứ nhất vây bụng kéo dài thành sợi, vây đuôi chẻ đôi, gốc vây màu xanh lục, viền vây đuôi màu vàng. Cá cái vây nhỏ, ít sặc sỡ hơn cá đực. Sống thành đôi. Khi cá cái đẻ, cá đực làm tổ bằng bọt khí, chăm sóc trứng và cá con như cá chọi. Nhiệt độ thích hợp 20 - 30 oC. Ăn động vật (giun đỏ). Phân bố ở Việt Nam và Nam Trung Quốc. Gần với loài này còn có loài cá lia thia (Betta pugnax) có tập tính như cá chọi.

Cá mã giáp (Trichogaster leeri), họ Cá rô (Anabantidae). Thân màu vàng nhạt, óng ánh, có một vạch đen chạy từ mồm đến giữa cuống vây đuôi, vây hậu môn cao và rất phát triển, vây bụng thành hai tia dài. Mình cá và các vây đều có nhiều vòng lốm đốm như xà cừ. Mùa cá đẻ, con đực có màu đỏ tươi. Cỡ cá 6 - 10 cm. Nhiệt độ thích hợp 23 - 30 oC. Ăn giun đỏ, rận nước (Daphnia). Nguồn gốc: Việt Nam, Malaixia, Thái Lan, Inđônêxia.

Cá thần tiên (Pterophyllum scalare), họ Cá rô phi (Cichlidae), thân mỏng, vây to, hình dáng thướt tha, màu sắc đẹp. Vây lưng và vây hậu môn phát triển, tạo thành với miệng cá một hình tam giác cân; vây bụng nhỏ, thành hai tia dài. Thích ăn động vật (giun bùn, bọ đỏ). Cỡ cá 10 - 15 cm. Đẻ ở nhiệt độ 27 - 30 oC; trứng dính vào rong tảo. Cá đực chăm sóc trứng và con mới nở. Nguồn gốc Nam Mĩ, được đưa sang Châu Âu đầu thế kỉ 20. Ở Việt Nam, thường thấy hai chủng: trắng và đen.