Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
RÙA

(Testudinata), phân lớp bò sát, có thân bọc trong vỏ giáp, gồm tấm giáp lưng (mu hay mai) lồi và tấm giáp bụng (yếm) phẳng, hai tấm được liên kết cứng với nhau bằng tấm hông hoặc liên kết mềm bằng màng da. Ở đa số loài R, tấm giáp gồm các phiến sừng ghép lại trừ R da, mai được phủ bằng da. Ở các loài R sống trên cạn, mai lưng lồi nhiều, tiết diện ngang tròn hoặc hình parabôn, chịu được tải trọng lớn. Ở các  loài rùa biển và R nước ngọt, mai có hình elip thuôn giảm được sức cản trong nước, đồng thời tấm giáp bụng cũng tiêu giảm bớt, được tách ra thành các phần, có chuyển động tương đối với nhau, tạo điều kiện hoạt động tự do của chân, đầu và đuôi. R không có răng; hàm có các phiến cứng nhọn. Cổ linh động, có thể tụt hẳn vào trong mai bằng cách ngoặt thẳng đứng hay nằm ngang. Chân các loài R nước ngọt có ngón nối với nhau bằng màng bơi. Chân R biển biến thành vây chèo; chân trước dài hơn chân sau. Các loài R mềm có khả năng hô hấp qua da (hiện tượng hiếm ở bò sát). Não R kém phát triển. Hiện có 210 loài R khác nhau, được chia làm 5 bộ. Đa số các loài R có đời sống nửa cạn nửa nước, chỉ có 43 loài R sống hoàn toàn trên cạn, 5 loài R biển chỉ lên cạn vào lúc đẻ. Mùa lạnh và mùa khô, nhiều loài R có thể ngủ, không ăn uống. R cạn và R biển nói chung là các loài ăn thực vật; R nước ngọt chủ yếu ăn động vật (cá, lưỡng thê, động vật không xương sống); có thể nhịn ăn vài tháng liền. R thường ghép đôi trên cạn, con cái đẻ mỗi lần từ một đến vài trăm trứng hình cầu hoặc hình bầu dục, phần lớn có vỏ mềm. Trứng nở sau 2 - 3 tháng. Thành thục sinh dục sau 2 - 3 năm tuổi. Con đực thường nhỏ hơn con cái. Kích thước các loài R rất khác  nhau, lớn nhất trong các loài R hiện đại là rùa da (hay bà tam) dài đến 2 m. Các loài R cổ đại có con dài đến 3 m. Nói chung, R lớn không hạn chế nhưng càng lớn tốc độ tăng trưởng càng chậm. Sống từ vài chục đến 100 năm. Nhiều loài R là đối tượng khai thác để lấy thịt, trứng, mỡ, phiến sừng. Ở Việt Nam, có các loài R biển có giá trị kinh tế như bà tam, vích, đồi mồi, vv.; ngoài ra còn nhiều loài R nước ngọt (trong đó có ba ba) được coi là những đặc sản quý. Một số nơi có trại nuôi đồi mồi lấy vẩy sừng làm hàng mĩ nghệ. Nhiều loài R, nhất là rùa biển, cần được bảo vệ để tránh tuyệt chủng. Loài R còn sống ở hồ Hoàn Kiếm là loài R nước ngọt cỡ lớn dài tới 2 m, có một số đặc điểm khác với loài R nước ngọt đã biết; có thể là loài mới cho khoa học.

 



Rùa
Rùa cạn

Trong truyền thuyết và truyện cổ của nhiều dân tộc, R thường được nói đến như là một thiên thần độ lượng hay giúp người làm việc nghĩa. Và trong các truyện ngụ ngôn, R là nhân vật tuy rất lề mề, nhưng lại tiêu biểu cho sự cần mẫn, trung thực và đáng yêu. Trong nghệ thuật tạo hình dân gian, R thường là con vật để trang trí, như được chạm khắc trên thân cột nhà dài và cột rào nhà mồ những gia đình khá  giả ở trung Tây Nguyên. Còn trong những trang trí tôn giáo và trang trí cung đình thời phong kiến thì R là con vật trong tứ linh: long - li - quy - phượng. R rất sạch sẽ, trong cơ thể có bộ phận dự trữ dinh dưỡng nên chúng có thể ngủ đông đến 6 tháng mà không cần phải ăn uống gì. Trong đời sống tinh thần của dân tộc Việt, hình ảnh con R tượng trưng cho sự  trường cửu  và thường thấy xuất hiện ở những nơi linh thiêng (xt. An Dương Vương; Hồ Hoàn Kiếm).