Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
NGUYỄN TRÃI

(hiệu: Ức Trai; 1380 - 1442), nhà chính trị, nhà ngoại giao, nhà thơ và nhà địa lí Việt Nam; danh nhân văn hoá thế giới. Quê: làng Nhị Khê, huyện Thượng Phúc, tỉnh Hà Đông (nay là huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây). Đỗ Tiến sĩ dưới thời nhà Hồ (1400), giữ chức Ngự sử đài chánh chưởng. Năm 1407, giặc Minh sang xâm lược, vua tôi nhà Hồ bị bắt trong đó có Nguyễn Phi Khanh - cha Nguyễn Trãi. Khi Lê Lợi khởi nghĩa, năm 1418, ông vào Lỗi Giang (Thanh Hoá) dâng “Bình Ngô sách” và ba kế hoạch đánh Minh (có tài liệu cho rằng ông vào Lam Sơn sớm hơn, dự Hội thề Lũng Nhai 1416). Ông cùng chủ tướng vạch chiến lược, sách lược và chỉ đạo cuộc kháng chiến, đặc biệt trong lĩnh vực ngoại giao, kết hợp quân sự với ngoại giao, tiến hành ngoại giao tâm công (đánh vào lòng người), dùng ngoại giao buộc Vương Thông đang bị vây ở thành Đông Quan tham gia Hội thề và rút quân về nước, giải phóng hoàn toàn đất nước. Tư tưởng và đường lối ngoại giao của ông được thể hiện rõ trong ba tác phẩm lịch sử: “Bình Ngô đại cáo”, “Bài văn thề” và “Quân trung từ mệnh tập”, với 76 bức thư gửi quân Minh. Đánh giá tài ngoại giao của Nguyễn Trãi, Lê Quý Đôn nói: “Viết văn thảo hịch tài giỏi hơn hết mọi thời đại”, còn Phan Huy Chú thì viết: “Quân trung từ mệnh tập” có sức mạnh của 10 vạn quân”.

 



Nguyễn Trãi

Sau kháng chiến thắng lợi, ông được liệt vào hàng đại phu lo công việc chính trị và Viện khu mật, được phong tước Quan Phục hầu. Sau khi Lê Thái Tổ mất, vì gian thần dèm pha, ông cáo quan về ẩn dật ở Côn Sơn, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương (khoảng cuối 1437 hay đầu 1438). Năm 1439, vua Lê Thái Tông triệu ông trở lại triều đình lo việc chính trị, văn hoá. Năm 1442, Lê Thái Tông chết đột ngột tại Lệ Chi Viên, có mặt Nguyễn Thị Lộ - vợ ba của Nguyễn Trãi, nên kẻ thù của ông khép cả nhà Nguyễn Trãi vào tội tru di tam tộc và 23 năm sau mới được vua Lê Thánh Tông minh oan và truy phong là Tế Văn hầu.

Ngoài những tác phẩm kể trên, Nguyễn Trãi còn để lại 254 bài thơ Nôm trong “Quốc âm thi tập”, 105 bài thơ chữ Hán trong “Ức Trai thi tập”. Thơ quốc âm của Nguyễn Trãi là những bài thơ Nôm cổ nhất Việt Nam, được phiên âm và xuất bản lần đầu 1956. Ông còn viết nhiều tác phẩm khác song bị thất lạc.

Về địa lí, ông viết tập “Dư địa chí”, giới thiệu địa giới Việt Nam từ Kinh Dương Vương đến Hậu Lê như là tư liệu về địa lí chính thức đầu tiên ở Việt Nam, được nhà vua (Lê Thái Tông) coi như chính thư. “Dư địa chí” viết theo kiểu cuốn “Vũ cống” Trung Quốc, đưa ra những hiểu biết về đặc điểm núi sông, đất đai và nhất là sản vật của các phủ, châu, đạo từ các đời trước cho đến lúc viết “Dư địa chí” để dâng vua.