Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
NGUYỄN ĐỖ CUNG

(1912 - 77), hoạ sĩ Việt Nam. Quê: làng Thư Trai, huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây. Sinh tại Hà Nội. Cha là Nguyễn Đỗ Mục (x. Nguyễn Đỗ Mục). Nguyễn Đỗ Cung tốt nghiệp Trường Mĩ thuật Đông Dương khoá 1929 - 34. Ông nghiên cứu di sản văn hoá dân tộc qua kiến trúc cổ, tìm kiếm các trào lưu nghệ thuật phương Tây đầu thế kỉ 20, thể nghiệm khuynh hướng lập thể với mong muốn tạo sắc thái mới cho hội hoạ. Năm 1940, đi Nhật tìm hiểu nghệ thuật sơn mài Nhật Bản. Từ 1941, vẽ các tranh “Cổng thành Huế”, “Cổng làng” (bột màu), “Từ Hải” (khắc gỗ màu), vẽ tranh bìa cho tập “Xuân thu nhã tập”. Sau Cách mạng tháng Tám 1945, ông là đại biểu Quốc hội khoá I, hoạt động trong Hội Văn hoá Cứu quốc, vẽ tranh cổ động, mẫu tiền giấy. Năm 1947, là chủ tịch Liên đoàn Văn hoá Kháng chiến của Liên khu V, vẽ tín phiếu, tranh cổ động và các tranh bột màu: “Du kích La Hai”, “Tiểu đội họp”, “Binh công xưởng”, “Nữ chiến sĩ Quảng Ngãi”. Ông khẳng định nghệ thuật phải phục vụ kháng chiến, phục vụ nhân dân, mở nhiều lớp vẽ ngắn hạn, đào tạo được những hoạ sĩ có tên tuổi về sau. Ông còn là một nhà nghiên cứu uyên bác, đã viết nhiều chuyên khảo về mĩ thuật cổ đại Việt Nam. Năm 1962, được giao trọng trách thành lập Viện Bảo tàng Mĩ thuật và chỉ đạo xây dựng nhà Bảo tàng Mĩ thuật, đã bồi dưỡng nhiều cán bộ nghiên cứu mĩ thuật qua phương pháp khảo sát các di tích mĩ thuật Việt Nam. Từ 1960, tranh sơn dầu của ông chủ yếu vẽ về đề tài công nhân: “Học hỏi lẫn nhau” (1960), “Công nhân cơ khí” (1962), “Tan ca mời chị em đi họp thợ giỏi” (1976). Giải thưởng Hồ Chí Minh (1996).

 



Nguyễn Đỗ Cung
"Học hỏi lẫn nhau" (sơn dầu, 1960)