Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
NGÔN NGỮ CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM

 gồm khoảng 60 thứ tiếng của các dân tộc sống trên lãnh thổ Việt Nam, khác nhau về nguồn gốc, đặc điểm, cấu trúc và chức năng xã hội. Tiếng Việt là tiếng phổ thông, là phương tiện giao tiếp chung của tất cả các dân tộc. Về nguồn gốc NNCDTVN thuộc về các họ ngôn ngữ sau đây: 1. Họ Nam Á: tiếng Việt, Mường, Poọng, Mày, Rục, Sách, A Rem, Mã Liềng, Khơ Mú, Xinh Mun, Ơ Đu, Kháng, Mảng, Bru, KhƠ Me, Ba Na, Xơ Đăng, Cơ Ho, Hrê, Mơ Nông, Xtiêng, Cơ Tu, Tà Ôi, Pa Cô, Mạ, Co, Gié Triêng, Chơ Ro, Brâu. 2. Họ Thái: tiếng Tày, Nùng, Thái, Lào, Lự, Cao Lan, Giáy, Puna, Bố Y, Tu Dí, Pa Dí, Thù Lao, Tổng, Thủy, Cơ Lao, La Chí, Pu Péo. 3. Họ Hán - Tạng: Hán, Lô Lô, Hà Nhì, La Hủ, Cống, Si La, Phù Lá. 4. Họ Mông - Miền: tiếng Miền, Mông, Pa Thẻn, Na Mẻo. 5. Họ Nam Đảo: Chăm, Ê Đê, Gia Rai, Raglai, Chu Ru, Hroi. Về loại hình, tất cả các ngôn ngữ Việt Nam đều thuộc họ ngôn ngữ đơn lập, có nhiều đặc điểm cơ bản về ngữ pháp, ngữ âm chung. Tuy nhiên, dựa vào một số tiêu chí, lại có thể pjhân các ngôn ngữ Việt Nam thành các nhóm nhỏ như: ngôn ngữ có thanh điệu (tiếng Việt, Mường, các ngôn ngữ họ Thái, Hán - Tạng, Mông - Miền) và ngôn ngữ không có thanh điệu (ngôn ngữ họ Nam Đảo, Khơ Me, Ba Na, Pa Cô, Bru, Cơ Tu, vv.). Những ngôn ngữ như tiếng Việt, Khơ Me, Chăm, Thái, Lào, Tày có chữ viết cổ truyền; một số chữ viết mới ra đời từ đầu thế kỉ 20 như chữ Ê Đê, Gia Rai, Ba Na; một số ngôn ngữ có chữ viết mới: Mông, Tày - Nùng, Xơ Đăng, Cơ Ho, Bru, Cơ Tu. Ngoài tiếng Việt là ngôn ngữ chung của các dân tộc có phạm vi sử dụng lớn, các ngôn ngữ khác có chức năng xã hội hẹp hơn. Các ngôn ngữ có chữ viết hiện được dạy ở trường phổ thông cơ sở (Tày - Nùng, Ê Đê, Khơ Me, Mông, Tà Ôi, Bru, Chăm, vv.).