Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
NGUYỄN DU

(tên chữ: Tố Như; hiệu: Thanh Hiên; 1766 - 1820), nhà thơ Việt Nam, danh nhân văn hoá thế giới. Quê: xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, phủ Đức Quang, trấn Nghệ An (nay là huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh). Con Nguyễn Nghiễm, tể tướng triều Lê. Mẹ là Trần Thị Tần, vợ thứ ba, người Kinh Bắc. Mồ côi cha mẹ lúc còn nhỏ, ở với anh là Nguyễn Khản. Học giỏi, thi đỗ Tam trường (1783), sau đó theo bố nuôi họ Hà, giữ chức quan võ ở Thái Nguyên. Khi Tây Sơn ra Bắc Hà (1786), Nguyễn Du về quê vợ ở Thái Bình, ở đó 10 năm, sau về Nghệ An. Năm 1802, Gia Long lên ngôi, ông ra làm quan với nhà Nguyễn, đến chức tham tri Bộ Lễ. Có đi sứ Trung Quốc. Tác phẩm: 3 tập thơ chữ Hán (“Thanh Hiên tiền hậu tập”, “Nam trung tạp ngâm”, “Bắc hành tạp lục”), “Truyện Kiều”, “Văn chiêu hồn” (tức “Văn tế thập loại chúng sinh”), “Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu”, và bài “Thác lời trai phường nón”. Thơ chữ Hán của Nguyễn Du đều là thơ kí thác tâm sự, kể cả thơ làm khi đi sứ. Nguyễn Du than thở cho mình có tài văn chương mà chịu sống nghèo khổ; từ đó ông thương tất cả những người tài hoa mà bạc mệnh, những người vì miếng cơm manh áo mà vất vả long đong, cuối cùng thương cả kiếp người, từ những vị quan to có quyền thế, cho đến em bé mồ côi. “Truyện Kiều” cũng được sáng tác theo mạch đó: tài mệnh ghen ghét nhau, phận đàn bà là tội nghiệp. Chỉ có bài “Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu” và bài “Thác lời trai phường Nón” là văn chơi. Nguyễn Du là nhà thơ nhân đạo chủ nghĩa bậc nhất của Việt Nam ở thế kỉ 19. Với trình độ sử dụng ngôn ngữ dân tộc điêu luyện tuyệt vời, “Truyện Kiều” đã trở thành một tác phẩm bất hủ, xưa nay truyền tụng. Xt.Truyện Kiều.