Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
NGUYỄN CÔNG TRỨ

(tự: Tồn Chất; hiệu: Ngộ Trai; biệt hiệu: Hy Văn; 1778 - 1858), triều thần, nhà thơ Việt Nam thời Nguyễn. Quê: làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, trấn Nghệ An (nay thuộc tỉnh Hà Tĩnh). Đỗ Giải nguyên 1819, làm quan dưới triều Nguyễn (Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức), đến chức phủ doãn. Trong 28 năm làm quan, bị giáng chức 5 lần. Đã đem quân đánh dẹp một số cuộc khởi nghĩa của nông dân. Có công lớn trong việc khai hoang lấn biển ở Quảng Yên, Hải Dương, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình. Thành công nhất là lập nên hai huyện Tiền Hải, Kim Sơn. Được nhân dân quanh vùng lập đền thờ khi còn sống.

Sáng tác nhiều thơ Nôm theo thể thơ đường luậtca trù. Thơ ông là cuộc đời và tâm trạng về cảnh nhà nghèo, làm quan thanh liêm, tận tuỵ với triều đình, nhưng lại bị gièm pha nên thăng giáng thất thường. Nội dung thơ phong phú, đa dạng, than cảnh nghèo, vạch trần nhân tình thế thái, đề cao chí nam nhi, ca ngợi thú cầm kì thi tửu. Những bài cuối đời tố cáo xã hội phong kiến lọc lừa, bạc bẽo. Nguyễn Công Trứ không dám phủ nhận các nguyên lí của Nho giáo (quân thần phụ tử), nhưng tỏ một thái độ ngất ngưởng, thách thức công nhiên dư luận; thơ nói chuyện đời thì thâm thuý; nói chuyện lí tưởng thì phấn chấn, hào hùng; nói chuyện ăn chơi thì trữ tình, phóng túng. Nguyễn Công Trứ là người nâng ca trù thành thể thơ thuần Việt dùng cho mọi đề tài.