Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
NGUYỄN BỈNH KHIÊM

(huý: Văn Đạt; tự: Hanh Phủ; thường gọi: Trạng Trình; 1491 - 1585), danh sĩ nổi tiếng, nhà thơ Việt Nam. Quê: huyện Vĩnh Lại, tỉnh Hải Dương (nay là huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng). Đỗ Trạng nguyên 1535. Dưới triều Mạc, làm quan tới chức thượng thư, thái phó tước Trình quốc công. Khi thấy triều chính ngày một xấu đi, Nguyễn Bỉnh Khiêm dâng sớ xin chém nhiều lộng thần nhưng không được chấp nhận, bèn cáo bệnh về quê.

Tại quê nhà, Nguyễn Bỉnh Khiêm dựng am Bạch Vân, lấy hiệu Bạch Vân Cư Sĩ, xây chùa, mở trường dạy học bên bờ sông Tuyết Hàn, học trò tôn xưng là Tuyết Giang Phu Tử. Tiếng là ẩn dật nhưng ông vẫn ở vị thế “làm quan tại nhà”, triều Mạc trọng thị như một đại thần cố cựu, thường tới hỏi kế sách, hoặc vời lên kinh bàn chính sự. Tương truyền Trịnh Kiểm, Nguyễn Hoàng đều hỏi ý kiến Nguyễn Bỉnh Khiêm trước khi quyết định những việc hệ trọng. Nhân dân tôn là bậc tiên tri, tiên giác, gọi ông là Trạng Trình, lưu truyền nhiều sấm trạng và nhiều truyền thuyết về Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Tác phẩm chính: “Bạch Vân am thi tập” (tập thơ chữ Hán); “Bạch Vân quốc ngữ thi” (tập thơ chữ Nôm) (x. Bạch Vân am thi tập; Bạch Vân quốc ngữ thi). Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm là thơ triết lí, giáo huấn, Ông kết hợp nhuần nhuyễn giữa quan niệm triết học trong “Kinh Dịch”, lí học và thực tiễn để giải thích những biến động của chính trị, xã hội, cảnh cáo bọn quyền quý về lẽ biến dịch của tạo vật. Ông đề cao phong cách sống ung dung tự tại, không màng danh lợi, quyền cao chức trọng. Nguyễn Bỉnh Khiêm có thái độ gay gắt với những thói xấu xa trong cuộc sống, lên án chiến tranh phi nghĩa. Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm giản dị, tự nhiên nhưng thường khô khan, ít có những rung động, cảm nhận sâu xa.