Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
TRẦU CAU

món gây kích thích bằng cách nhai lâu rồi nhả bã, gồm 5 vị: quả cau, lá trầu không, vôi tôi, vỏ chay (hay vỏ dà, vỏ quạnh) và thuốc lào. Trầu, cau, vôi là 3 vị chính. Tục nhai trầu (không nuốt nhưng quen gọi là ăn) có từ thời cổ đại ở hầu hết các dân tộc của Việt Nam và Đông Nam Á. Tục này hiện vẫn tồn tại trong một bộ phận dân cư của nhiều dân tộc, không phân biệt trẻ già, nam nữ. Tục nhai trầu đi đôi với tục nhuộm đen răng, một hình thức trang điểm của nam nữ thời xưa. Quả cau được gọt vỏ rồi bổ thành từng miếng. Lá trầu không được quết tí vôi rồi cuộn nhỏ như tổ sâu. Tất cả bỏ vào miệng nhai cùng với miếng vỏ chay, có khi thêm mấy sợi thuốc lào. Càng nhai, càng thấy dậy mùi thơm, có vị tê cay, má đỏ au, người ấm lên và tâm trí lâng lâng như uống rượu mạnh. Nhai lâu, nước miếng ứa ra một màu đỏ, đó là cốt trầu, nhổ đi. Khi đã nhạt mùi vị thì bã trầu cũng vất bỏ. Người Việt có sự tích trầu, cau ngợi ca tình chồng vợ và nghĩa anh em qua 3 nhân vật của huyền thoại. Những phong tục, tập quán có liên quan đến trầu cau rất phong phú, đa dạng, hầu như trải khắp mọi lĩnh vực của đời sống: trong tín ngưỡng, trong hôn nhân, sinh nở, hội hè, tang lễ, trang phục, giao tiếp xã hội, vv. Những phong tục đó đã trở thành nét văn hoá sống động, đặc thù của người Việt và nhiều dân tộc khác.