Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
TRẬN TRÂN CHÂU CẢNG (7.12.1941)

đòn đột kích của hải quân Nhật vào căn cứ hải quân Mĩ ở Trân Châu Cảng trên đảo Haoai (Hawaii), nhằm tiêu diệt một lực lượng lớn hạm đội Thái Bình Dương của Mĩ, giành quyền khống chế trên biển ở tây Thái Bình Dương, mở đầu chiến tranh với Mĩ trong Chiến tranh thế giới II. Kế hoạch do đô đốc Yamamôtô (I. Yamamoto, tư lệnh hạm đội Nhật Bản) vạch ra; lực lượng trực tiếp thực hiện gồm 6 tàu sân bay, 2 tàu thiết giáp, 2 tàu tuần dương và một số tàu khu trục... do phó đô đốc Nagumô (C. Nagumo) chỉ huy. Sau khi tập kết ở Takan [vũng nhỏ ở đảo Iturup (Iturup) trong quần đảo Kurin), ngày 26.11.1941, cụm tàu này xuất phát tiến về phía đông và giữ im lặng vô tuyến điện tuyệt đối. Sau đó, các tàu khu trục được lệnh quay lại, còn các tàu khác hướng về mục tiêu và đến bắc Haoai 200 dặm lúc 6 giờ ngày 7.12 một cách bí mật. Đợt tiến công đầu tiên của các máy bay Nhật Bản bắt đầu lúc 7 giờ 59 phút. Phía Mĩ hoàn toàn bị bất ngờ, chỉ phát hiện đó là máy bay Nhật Bản khi các quả bom đầu tiên rơi xuống. Chỉ có 4 máy bay Mĩ cất cánh được, trong đó 3 chiếc bị bắn rơi ngay. Đợt 2 diễn ra lúc 8 giờ 40 phút đến 9 giờ 15 phút. Pháo phòng không Mĩ hạ được 1 máy bay Nhật Bản. Trong trận này, Mĩ bị thiệt hại nặng nề: 3 tàu thiết giáp bị phá huỷ, 3 bị thương nặng, 3 tàu bị thương nhẹ; 3 tàu tuần dương bị thương (trong số 9 tàu tuần dương); 2 tàu khu trục bị thương và cháy (trong số 29 tàu khu trục); 2 tàu bổ trợ bị đắm, 2 tàu bị thương; 2.403 người chết. Phía Nhật Bản mất 29 máy bay và 55 phi công. Đối với Mĩ, TTCC thực sự là một thảm hoạ mà nguyên nhân trước hết là do tình báo kém và mất cảnh giác.