Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
THÚ

(Mammalia), lớp động vật có vú, có tổ chức cơ thể cao nhất trong giới động vật, được thể hiện: sự phát triển cao của hệ thần kinh (cấu trúc vỏ não, van não mới) đảm bảo thích ứng nhạy bén với môi trường sống phức tạp; thân nhiệt cao và ổn định (nhiệt độ cơ thể 36 - 37oC); có cơ hoành ngăn cách xoang ngực và xoang bụng để bảo vệ các nội quan và hô hấp; đẻ con và nuôi con bằng sữa. Da T có chức năng chống chịu sự xâm nhập của vi khuẩn, tham gia bài tiết, điều hoà thân nhiệt và dự trữ năng lượng; da còn có sản phẩm sừng, lông, ria mép, trâm cứng (nhím, don), vảy sừng (tê tê) hoặc móng guốc (trâu, bò, ngựa, vv.). Xương chi phân hoá thích nghi với môi trường sống đa dạng, từ cấu tạo xương chi 5 ngón điển hình (T ăn thịt, Khỉ hầu, người), đến các loài thú móng guốc có số lượng ngón tiêu giảm còn 4, 3 hoặc 1 như hươu, nai, tê giác, ngựa. T có thính giác rất phát triển, có thể nghe được tần số dao động từ 16 Hz đến 20.000 Hz; vd. chó có thể nghe được âm thanh có tần số 25.000 Hz, dơi có thể nghe sóng siêu âm 98.000 Hz. Khứu giác giúp T tìm kiếm mồi, phân biệt giới tính, phát hiện kẻ thù... Các hệ hô hấp, sinh dục, tiêu hoá phát triển đầy đủ. Trọng lượng cơ thể biến động rất lớn, có loài như dơi muỗi chỉ nặng 15 g, có loài nặng 6.000 - 7.000 kg như voi Châu Phi hoặc nặng đến 150 tấn như cá voi xanh. Hiện nay, đã biết được khoảng 4 nghìn loài, 1.200 chi. Ở Việt Nam, có 275 loài và phân loài, 14 chi. Tuỳ theo lối sống mà người ta chia ra các nhóm T: nhóm chủ yếu kiếm ăn trên mặt đất, đi bằng bốn chi như trâu, bò, hổ, báo; nhóm thích ứng với bay lượn như dơi; nhóm bơi lội trong nước nhờ cấu tạo bàn chân theo kiểu mái chèo như cá voi, cá heo. Tổ tiên các loài T xuất hiện cách đây 180 triệu năm từ những loài bò sát cổ (các di tích đã tìm được ở Nam Phi, Trung Quốc và một số nước khác). T có vai trò rất quan trọng trong đời sống của con người. Nhiều loài T là nguồn thức ăn cho người (hươu, nai...), nguồn dược liệu quý (mật gấu, xương hổ); da, lông dùng làm hàng mĩ nghệ quý, lông làm len, dạ...; nguồn sức kéo quan trọng ở nhiều nước. Nhiều loài T đã được con người thuần hoá, phục vụ cho đời sống như lợn, trâu, bò, ngựa; đối tượng phục vụ văn hoá khoa học. Các loài T rừng ở nhiều nước đã bị khai thác quá mức nên số lượng giảm đáng kể và trở nên quý hiếm (voi, hổ, tê giác...), cần có biện pháp bảo vệ thích hợp. Ở Việt Nam, đã ghi nhận 83 loài T quý, hiếm, đặc hữu cần có biện pháp bảo vệ khẩn cấp. Xt. Khỉ hầu; Voi.