Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
MƯỜI HAI SỨ QUÂN

những người mang khuynh hướng phân tán, cát cứ ở Việt Nam vào những năm 966 - 968. Mỗi người chiếm giữ một vùng gồm: Trần Lãm giữ Bố Hải Khẩu (thuộc Thái Bình), Kiều Công Hãn giữ Phong Châu (thuộc Phú Thọ), Kiều Thuận giữ Cẩm Khê (Hà Tây), Nguyễn Khoan giữ Tam Đới (thuộc Phú Thọ), Ngô Nhật Khánh giữ Đường Lâm (Hà Tây), Đỗ Cảnh Thạc giữ Bảo Đà - Thành Quèn (Hà Tây), Lý Khuê giữ Siêu Loại (Bắc Ninh), Nguyễn Thủ Tiệp giữ Tiên Du (Bắc Ninh), Lã Đường giữ Tế Giang (Hưng Yên), Phạm Bạch Hổ giữ Đằng Châu (Hưng Yên), Nguyễn Siêu giữ Tây Phù (ngoại thành Hà Nội), Ngô Xương Xí giữ Bình Kiều (Thanh Hoá). Có nguồn gốc và thế lực mạnh yếu khác nhau, nhưng đều thuộc tầng lớp trên trong xã hội. Bằng hành động cát cứ, họ đã đưa đất nước vào tình trạng không có người quản lí sau sự sụp đổ của vương triều Ngô (sử cũ thường gọi là Loạn mười hai sứ quân). Bị Đinh Bộ Lĩnh lần lượt đánh dẹp, thu phục vào các năm 966 - 967, thống nhất đất nước năm 968, dựng nên nước Đại Cồ Việt độc lập.