Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
TRANH SƠN DẦU

tranh vẽ bằng sơn dầu. Chất liệu hội hoạ gồm bột màu nghiền nhuyễn với một loại dầu thực vật dễ khô kết (dầu lanh, dầu cù túc, vv.) thành chất màu dẻo quánh dễ xử lí khi còn ướt và không biến dạng khi khô kiệt, được dùng từ thế kỉ 15 nhờ sáng chế của các hoạ gia người Flamăng là Hubơ (V. Huber), Van Êch (J. Van Eyck), vv. Với đặc tính giữ ướt lâu và có thể đè chồng lớp màu nhạt lên lớp màu đậm, chất màu lại dễ pha trộn và dễ hoà quyện với nhau để hợp thành những hoà sắc giống với sự vật thực, tạo nên những hiệu quả sinh động, sơn dầu được xem là chất liệu tiện dụng nhất trong miêu tả và diễn đạt dù là tranh trực hoạ hay tranh vẽ dài ngày. Khi sơn còn ướt, người vẽ được hoàn toàn chủ động, có thể bôi mỏng, trát dày hay pha loãng, cũng có thể chồng chất nhiều lớp hoặc cạo xoá tuỳ theo yêu cầu kĩ thuật. Khi sơn khô kiệt, mọi hình thức trên mặt tranh đều được giữ nguyên như lúc sơn còn ướt... Vì vậy, TSD rất phong phú và đa dạng trong việc thể hiện tất cả các thể loại, đề tài.

TSD giữ vai trò gần như chủ đạo trong nền hội hoạ Châu Âu từ thế kỉ 15 trở lại đây và có mặt trong khắp các bảo tàng mĩ thuật thế giới, với rất nhiều kiệt tác bậc thầy. Sơn dầu du nhập vào Việt Nam từ đầu thế kỉ 20, đến nay đã có nhiều tiến bộ và thành tựu.