Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
MEN

hợp chất (hữu cơ và vô cơ) phủ lên xương gốm nung đến độ lửa nhất định thì chảy bóng trên bề mặt sản phẩm gốm. Qua ngẫu nhiên nung tạo, lúc đầu người ta tìm ra M bằng nhiều cách: cho muối vào lò ở độ lửa cao, tạo nên lớp bóng phớt nhẹ trên bề mặt sản phẩm gốm, là cách làm rất xưa khá thô sơ. Người Sanđê (Chaldé) vùng Tiểu Á đã biết dùng M gio vào khoảng thế kỉ 5 tCn. Ở Việt Nam, di chỉ lò Trại Vải thế kỉ 6 đã có hàng loạt sản phẩm gốm M gio thành thục. M có nhiều loại tuỳ thuộc tính chất tưng loại xương đất và yêu cầu màu sắc trang trí. Một số M thông dụng: 1) M chảy: tăng chất kiềm trong M làm cho M chảy nhoè nhiều hoặc ít tuỳ cách phối chất, nung tạo M chảy nhiều màu lẫn lộn và trong suốt phủ trên các lư hương chạm khắc nổi của lò Bát Tràng thế kỉ 16 - 18, có giá trị nghệ thuật độc đáo mà sau này khó làm lại tương tự. 2) M đục: chảy bóng nhưng vẩn đục. M gốc thiếc chủ yếu thuộc loại này. 3) M màu: M trong hoặc đục có pha thêm oxit màu. M màu truyền thống Việt Nam hầu hết pha từ quặng hoặc đất màu thiên nhiên như M da lươn Phù Lãng lấy từ đá son, bùn ao; M nâu Bát Tràng lấy từ phù sa sông Hồng, vv. 4) M mỡ: xương đất chín nhưng M mới chớm chảy do sự chủ động pha phối M, M mỡ tuỳ trường hợp tạo nên vẻ đẹp rắn chắc, không bóng lộn. M mỡ phủ lên các tượng gốm là cần thiết, M nâu mờ của hoa văn cạnh M trắng bóng của nền gốm hoa nâu thời Lý, Trần có giá trị nghệ thuật thâm trầm, vững chãi. 5) M nặng lửa: nhiệt độ nung 1000 - 1400oC, tuỳ tỉ lệ thành phần hợp chất M. M nặng lửa Việt Nam thông thường có M gió (chủ yếu bằng gió), M đá (chủ yếu bằng các khoáng thạch); M đàn cơ bản vẫn là M gió có pha đất Đông (Cao Lanh, Đông Triều) loại M dành riêng cho hai lò Bát Tràng và Cầu Cậy trước đây. 6) M nhẹ lửa: nung 600 - 900oC tuỳ từng loại phối men phù hợp với từng loại xương đất thì chảy bóng. Các tượng nhỏ bằng đất nung đặt ở non bộ có M màu xanh, vàng đỏ, nung đến 600oC; gạch bằng sành xốp có M nung 800 - 900oC thì men chảy; các M màu thuộc sản phẩm gốm Biên Hoà, Lái Thiêu phần lớn cũng chỉ nung 800 - 900oC. Gạch ngói lưu li, hoàng li của kiến trúc cung điện Huế thuộc loại M chì nhẹ lửa. 7) M rạn: do phản ứng vật lí giữa xương đất và M thông qua lửa (tạo xương đất co hơn độ co của M). M rạn chân chim, M rạn tổ ong là những loại M rạn đẹp của từng lò địa phương. M rạn Bát Tràng xưa vốn nổi tiếng do biết dùng xương đất, lớp áo đất và M tạo nên hiện tượng rạn tương đối to và rất đều trên bề mặt sản phẩm. 8) M trong: khi đã chảy bóng thì trong như gương, lộ rõ màu xương đất M gio truyền thống. M Tràng Thạch của Việt Nam thuộc loại này. M trong có tác dụng lớn đối với các loại gốm nặng lửa vẽ màu dưới M, thế mạnh lâu đời của sành sứ Châu Á, Việt Nam.