Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
LI HÔN

việc hai vợ chồng bỏ quan hệ vợ chồng chính thức, vì những nguyên nhân nào đó mà không đạt được mục đích hôn nhân. Việc LH có thể xảy ra ở 2 thời kì: sau khi dạm hỏi (trước lúc cưới), và sau lúc cưới khi hai vợ chồng đã ăn ở với nhau một thời gian, thậm chí sau khi đã sinh con cái.

Trước 1945, vợ chồng muốn li dị phải trình làng, làng xử không được phải đến cửa quan (quan huyện, quan phủ). Đàn ông muốn bỏ vợ phải viết tờ li dị. Vợ cầm giấy ấy trình làng, trình quan xong mới được đi lấy chồng khác. Từ 1945 đến nay, vợ chồng LH phải được toà án xét xử. Thông thường toà án hoà giải; hoà giải không được mới quyết định cho LH. Muốn xây dựng lại gia đình phải có quyết định của toà án cho phép LH trước đó. LH là hiện tượng phổ biến ở các dân tộc trên thế giới. Dưới các chế độ phụ quyền, đặc biệt xã hội phong kiến gia trưởng phương Đông, với tư tưởng trọng nam khinh nữ, trong LH nữ giới cũng chịu nhiều thiệt thòi hơn nam giới. Đối với nhiều dân tộc thiểu số nước ta, tập tục đòi trả của rất nặng nề, nên nữ giới muốn LH để xây dựng cuộc sống gia đình hạnh phúc hơn cũng không dễ thực hiện được. Trong các xã hội hiện đại, tỉ lệ LH rất cao, do đó ảnh hưởng đến việc chăm sóc giáo dục con cái. Các quốc gia trên thế giới đều có văn bản pháp quy, quy định việc LH. Ở Việt Nam trước đây, luật Hồng Đức và luật Gia Long cũng có quy định về vấn đề này. Từ sau 1945, Nhà nước Việt Nam, trong Luật hôn nhân và gia đình cũng có quy định chặt chẽ vấn đề LH (ở chương VII, từ điều 40 đến điều 45).