Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
LÀNG

đơn vị tụ cư cổ truyền ở nông thôn người Việt, tương đương với sóc (của người Khơ Me), bản (của dân tộc thiểu số phía bắc), buôn (Trường Sơn - Tây Nguyên); một kết cấu cư trú, kinh tế, xã hội, văn hoá đa dạng, một trong 3 khâu quan trọng của cấu trúc xã hội truyền thống, nối liền nhà với nước. Xuất hiện rất sớm, từ thời Hùng Vương dựng nước, gọi là chạ, trải qua một lịch sử phát triển và biến đổi lâu dài. Lúc đầu có thể là nơi cư trú của một dòng họ. Về sau, có nhiều dòng họ cùng cư trú, trong đó thường có 2 - 3 dòng họ lớn. Trong mỗi L có 2 mối quan hệ: quan hệ huyết thống và quan hệ láng giềng. Mỗi L nguyên là một công xã nông thôn. Cơ sở kinh tế chung của L là ruộng công, nhất là đối với Miền Trung và Miền Bắc là nơi mà quá trình tư hữu hoá ruộng đất diễn ra không mạnh mẽ như ở Miền Nam. Số ruộng công được định kì chia cho các suất đinh trong L canh tác. Cho đến trước 1945, dưới L có phe. Trên L có tổng (dưới huyện). L có 2 bộ máy điều hành: bộ máy hành chính gồm lí dịch; bộ máy tự quản gồm tiên chỉ, thứ chỉ, kì mục. Bên cạnh việc thi hành luật pháp của nhà nước, L có lệ L, có hương ước và khoán ước; giữa một số L như ở Miền Bắc có tục kết chạ. L còn giữ một số yếu tố dân chủ, thô sơ thể hiện trong bầu cử, bãi miễn các chức vụ lí dịch và bộ máy tự quản. Mỗi L có đình thờ thành hoàng, thường là người có công chống giặc ngoại xâm hay có công chiêu dân lập ấp, hoặc là các vị tổ sư các ngành nghề thủ công. Bên cạnh đình có chùa thờ Phật, văn chỉ hay đền thờ Khổng Tử. L Công giáo có nhà thờ đạo Thiên Chúa. L có những sinh hoạt văn hoá cộng đồng, thể hiện trong các lễ hội, các trò chơi dân gian. L có văn hoá xóm làng, đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc. Có nhiều loại hình L: L thuần nông, L thủ công, làng  buôn, L vạn chài, ... Do thời gian và điều kiện hình thành không giống nhau, cho nên L Miền Nam, L Miền Bắc và L Miền Trung không hoàn toàn giống nhau.

Trước 1945, bên cạnh đó có L một số yếu tố tích cực như tính cộng đồng làng xã, một số nét dân chủ, sự duy trì văn hoá xóm làng,vv. L có những nét tiêu cực (ý thức hệ phong kiến, tôn ti trật tự nặng nề; sự bất bình đẳng tài sản, nam nữ, chính cư, ngụ cư, tính hạn hẹp của tinh thần cộng đồng làng xã, nhiều hủ tục, vv.). Thực dân Pháp có tiến hành một số cuộc cải lương hương chính, nhưng không mang lại kết quả. Sau Cách mạng tháng Tám, làng xã thay đổi dần, từng bước hoàn thiện theo thể chế chính trị mới của Nhà nước Việt Nam.