Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
LAN

(Orchidaceae), họ cây thảo, thân leo, bộ Lan (Orchidales). Thân gồm nhiều cành mập nối tiếp nhau hoặc gồm nhiều đốt và lóng (một số có dạng củ) mọng nước. Lá mọc cách, ít khi mọc đối hay vòng, nguyên, có khi rất dày. Rễ khí sinh phát triển mạnh, bao phủ một lớp mô xốp dày dùng dự trữ nước, ở một số loài rễ có khả năng quang hợp (xt. Màng bao rễ). Hoa tập hợp thành bông, chùm, đôi khi phân thành chuỳ, một số ít có hoa đơn độc (L cành giao). Hoa mẫu 3, lưỡng tính; bao hoa gồm 2 vòng, mỗi vòng 3 mảnh, có dạng cánh làm thành cánh môi, lúc nở bầu vặn 180o cánh môi quay ra trước làm chỗ đứng cho côn trùng. Ở những loài có cụm hoa treo thõng, không có hiện tượng quay. Ở góc cánh hoa mới có mật. Nhị thường chỉ có 1 hoặc 2, ít khi có 3 hoặc 5. Có trường hợp nhị một trụ gọi là trụ nhị - nhuỵ. Nhị gồm 2 phần: khối phấn và hốc phấn. Bầu dưới 3 ô, chứa nhiều noãn dính trụ giữa hoặc noãn bên. Quả nang dài nở 3 ô kẽ. Hạt có một phôi chưa phân hoá, sau 2-8 tháng hạt mới chín, phần lớn hạt bị thui vì không gặp nấm cộng sinh. L là họ lớn. Gồm 750 chi, 20 - 25 nghìn loài. Phân bố từ 68o vĩ Bắc đến 56o vĩ Nam, chủ yếu ở vùng nhiệt đới Châu Mĩ, Đông Nam  Á. Ở Việt Nam , có khoảng 125 chi, trên 800 loài. L mọc ở hốc đá, sống phụ sinh, bì sinh trên cây khác, một số hoa mọc trên đất hoặc sống hoại sinh như Galeota ở Ba Vì. L có nhiều loài cho hoa đẹp, hương thơm, dùng trang trí. Nhiều nước đã dùng kĩ thuật nuôi cấy mô để giữ và gây nhiều giống quý. L là nguồn lợi xuất khẩu quan trọng ở một số nước.

Ở Việt Nam, đã kết hợp cách trồng cổ truyền với kĩ thuật mới để sản xuất nhiều L xuất khẩu. Một số loài được trồng ở Việt Nam: a) L cành giao (Vanda teres; tk. L hồ điệp), cây bì sinh, thân dài tới vài mét, phân nhánh, hình trụ có đốt dài màu xanh (0,5 cm), bén rễ. Lá hình trụ dài 10 - 20 cm, rộng 0,5 cm, màu lục sẫm. Cụm hoa gần nằm ngang, ở phía trên thân, dài hơn lá, có 3 - 5 hoa, rộng tới 10 cm, rất lâu tàn. Cánh hoa màu hồng tím nhạt, cánh môi có thuỳ ở giữa hình tam giác chẻ sáu ở ngọn; cựa hình nón rộng, dẹt. Hoa đẹp. b) L da báo (Vandopsis gigantea; tk. L râu rồng), cây bì sinh, thân mọc thõng xuống. Lá hình dải, dài và xanh lục, úp sít nhau, cong, ngọn chia ra 2 thuỳ không đều. Cụm hoa ở kẽ lá, thõng xuống. Có 6 - 12 hoa, thơm, lâu tàn, rộng 7,5 cm. Màu vàng kim, đốm nâu. c) L đuôi cáo nhiều hoa (Aerides multiflora; tk. L dáng hương nhiều hoa), thân mọc dài, khoẻ, hoá gỗ ở gốc với nhiều rễ khí sinh. Lá hình chỉ dài 17 - 28 cm, rộng 1,5 cm, chia hai thuỳ không đều ở ngọn, dày, màu lục nhạt có đốm nâu. Cụm hoa hình chuỳ thõng xuống, mang nhiều hoa thơm, rộng 2 cm, màu trắng, có 2 - 3 đốm tím. d) L hạc đính (Phajus wachi), cây sống ở đất.

Thân hành, lá rộng hình dải có cuống và bẹ lá mọc từ gốc. Cụm hoa chùm, ở bên, dài 50 - 70 cm, lá bắc dài 4 - 5 cm. Hoa rất to, ngoài nhạt, trong đỏ nâu, cựa dài 1 cm. Thường mọc ở thung lũng đá vôi ẩm ướt và có nắng. Ra hoa tháng 4 - 5. đ) L hoàng thảo vảy rồng (Dendrobium aggregatum; tk. L vảy rắn, L vảy cá), gốc mọc bò, mang nhiều hành giả mọc sít nhau, có hoa tua như bờm ngựa. Lá dài 5 - 16 cm, rộng 15 - 28 mm, có cuống rộng. Cụm hoa là chùm rộng, mọc giữa ngọn một hành giả, có lá bắc dài 2 mm. Hoa màu vàng nhạt, giữa màu da cam, đường kính 25 mm. Cánh môi rất rộng. Cây bám trên cây gỗ ven đường hay chân núi, trong rừng, ở nhiều nơi. Ra hoa tháng 3 - 4. e) L tai trâu (Rhynchostylis gigantea; tk. L đuôi rồng, L lưỡi bò), cây bì sinh. Rễ rất dày. Thân dài 15 - 20 cm, dày 2 cm. Lá dẹt hình dải, màu lục sẫm có sọc dọc màu nhạt, rất dày. Có 2 - 4 cụm hoa ở kẽ lá, thành chùm hình trụ dày đặc, thõng xuống. Hoa nhiều, rộng 2,5 cm, rất thơm, lâu tàn. Cánh hoa màu hồng sẫm, có đốm. Mọc nhiều ở Miền Trung và Miền Nam Việt Nam, từ Quảng Trị trở vào.