Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
HUẾ

thành phố, tỉnh lị tỉnh Thừa Thiên - Huế. Diện tích 71 km2, gồm 20 phường (Phú Thuận, Phú Bình, Tây Lộc, Thuận Hoá, Thuận Lộc, Thuận Thành, Phú Cát, Phú HIệp, Phú Hậu, Phú Hội, Phú Nhuận, Phú Hoà, Vĩnh Ninh, Kim Long, Phước Vinh, Trường An, Phường Đúc, Vĩ Dạ, Xuân Phú, An Cựu) và 5 xã (Hương Sơ, Hương Long, Thuỷ Xuân, Thuỷ Biều, Thuỷ An). Dân số 293.000 (1999).

Sông Hương chảy qua ra cửa Thuận An. Trung tâm kinh tế của tỉnh gồm các cơ sở công nghiệp (xưởng sợi, nhà máy bia, cơ khí sửa chữa, chế biến nông sản, hải sản), thủ công mĩ nghệ (thêu ren trang phục cổ, nón bài thơ của Huế nổi tiếng thanh và đẹp); gia công đồ gỗ, gạch ngói, sành sứ tinh sảo để phục chế di tích. Đường 1A và đường sắt Thống Nhất chạy qua. Có trường Quốc học Huế; Đại học Khoa học Huế.

Vốn là vùng đất thuộc xứ Thuận Hoá xưa (đời Trần, Lê). Năm 1636, là trị sở của Đàng Trong; năm 1687, là chính dinh Phú Xuân; năm 1788, là nơi Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế. Năm 1801, Nguyễn Ánh đánh chiếm Phú Xuân đặt làm kinh đô của triều Nguyễn. Thời Pháp thuộc (1897-1945) là tỉnh lị Thừa Thiên và thủ phủ của Trung Kỳ. Ngày 23. 8.1945, H là nơi diễn ra lễ thoái vị và trao ấn kiếm của Bảo Đại, ông vua cuối cùng của triều đình nhà Nguyễn. Từ 1945, H là tỉnh lị tỉnh Thừa Thiên; từ 1975 đến 1989, là tỉnh lị tỉnh Bình Trị Thiên; từ 6.1989, là tỉnh lị tỉnh Thừa Thiên - Huế.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Huế

Quần thể di tích H thuộc loại hình di tích văn hoá cung đình. Ngoài Đàn Nam Giao và Hổ Quyền, cho đến nay, H còn khoảng trên 200 công trình được trải rộng trên cả hai bờ bắc và nam sông Hương. Khu lăng tẩm bao gồm các công trình lăng mộ chủ yếu nằm ở phía tây thành phố. Khu di tích H có 2 khu vực chính: Khu vực Kinh thành và Khu vực Lăng tẩm. Khu vực Kinh thành bao gồm Kinh thành, Hoàng thành, Tử Cấm thành, được xây dựng hoàn chỉnh trong khoảng thời gian từ 1802 đến 1840, dưới hai triều vua Gia Long và Minh Mạng. Kinh thành xây theo kiểu Vôbăng (Vauban) theo hướng nam, diện tích khoảng 250 ha, chu vi gần một vạn mét; thành cao 6,6 m, dầy 21 m, giữa đắp đất, hai mặt trong ngoài ốp gạch, có hệ thống hào đường thuỷ bao quanh để bảo vệ thành. Trên mặt thành có xây các pháo đài, giác bảo, báo nhãn, tường bắn, vọng lâu để canh gác phòng thủ. Ở chính giữa là Kì Đài. Các dinh thự và công thự của triều đình như Lục bộ, Cơ mật viện, Quốc sử quán, Quốc Tử Giám, vv. được bố trí ở trong thành. Hoàng thành và Tử Cấm thành thường được gọi là khu Đại Nội; là trung tâm sinh hoạt chính trị và hành chính quan trọng nhất của triều đình. Toàn bộ Hoàng thành (xt. Hoàng thành) có khoảng 100 công trình kiến trúc lớn nhỏ, được bố trí cân đối theo chức năng sử dụng của từng cụm. Nơi cử hành các cuộc đại lễ của triều đình là một không gian khoáng đạt từ cửa Ngọ Môn đến điện Thái Hoà. Năm toà miếu điện tráng lệ uy nghiêm là nơi thờ các "tiên vương liệt thánh" nhà Nguyễn. Cung Diên Thọ và cung Trường Sanh xinh xắn trầm lắng, nơi mẹ và bà nội vua ở; phủ Nội vụ được dùng làm kho để tàng trữ đồ quý của triều đình, vườn Cơ Hạ và điện Khám Văn được kết hợp hài hoà với cảnh quan thiên nhiên, nơi học tập và vui chơi của các hoàng tử và công chúa. Bên cạnh là Tử Cấm thành, nơi sinh hoạt, làm việc của nhà vua và Hoàng gia. Đây là khu vực có mặt bằng hình vuông, mỗi cạnh khoảng 300 m ngăn cách với bên ngoài. Toàn bộ khu vực có gần 50 công trình lộng lẫy vàng son. Đó là: Đại Cung Môn, nơi vua làm việc hàng ngày; điện Càn Thanh, nơi vua ở; cung Khôn Thái, nơi ở của Hoàng quý phi; Thái Bình lâu, nơi vua đọc sách; Lục viện, thế giới của phi tần, cung nữ. Toàn bộ cảnh quan là một tổng thể kiến trúc hoàn chỉnh của các thành quách và cung điện, là sự kết hợp hài hoà giữa nền nghệ thuật phương Đông và phương Tây.

Với quan niệm "tức vị trị lăng" nên ngay từ khi còn đang ở ngôi, các vị vua nhà Nguyễn đã bắt đầu công việc xây khu lăng tẩm cho riêng mình. Đây là một công việc rất kì công của các vị vua đương triều và bộ máy quan lại. Triều Nguyễn có tất cả 13 vị vua, hiện nay ở H có 8 khu lăng tẩm (xt. Lăng vua Nguyễn) và đều nằm ở phía tây, nơi Mặt Trời lặn, hàm nghĩa khi vua băng hà sẽ cùng Mặt Trời đi về phía tây để an giấc ngàn thu. Ngày nay, hệ thống lăng tẩm nhà Nguyễn đã được các nhà khoa học trong nước và trên thế giới ghi nhận như một thành tựu rực rỡ nhất của nền kiến trúc cổ Việt Nam (xt. Lăng Gia Long; Lăng Minh Mạng; Lăng Thiệu Trị; Lăng Tự Đức, Lăng Đồng Khánh, Lăng Khải Định).

 Trong lịch sử đế đô nước Việt Nam thời phong kiến, kinh thành H còn lưu giữ được một quần thể kiến trúc gồm: Thành - Hào, cung điện và lăng tẩm tương đối toàn vẹn, tiêu biểu nghệ thuật kiến trúc cung đình, cùng với một di sản văn hoá phi vật thể phong phú, đa dạng (xt. Kinh thành Huế). Trên cơ sở của những giá trị lịch sử và nghệ thuật đó, ngày 11.12.1993, quần thể di tích H đã được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới.

Huế