Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
HỘI TAO ĐÀN

hội xướng hoạ cung đình do vua Lê Thánh Tông thành lập mùa đông năm Ất Mão (1495). Sử cũ chép, vua thấy trong 2 năm Sửu (1493), Dần (1494) được mùa, thời tiết thuận hoà, trăm thứ lúa đều tốt, mới nhân lúc thư nhàn, đặt 9 bài thơ ca ngợi điềm lành. Vua tự xưng là Tao Đàn đô nguyên suý, cử Thân Nhân Trung, Đỗ Nhuận làm Tao Đàn phó nguyên suý, tập hợp 28 từ thần, gọi là Tao Đàn nhị thập bát tú, theo vần 9 bài thơ xướng ấy mà hoạ lại, được khoảng vài trăm bài, gọi là "Quỳnh Uyển cửu ca" hiện còn khoảng 250 bài thơ chữ Hán. "Quỳnh Uyển cửu ca" là mốc xuất hiện HTĐ; khi in, được Lê Thánh Tông đề tựa, học sĩ Đào Cử (người ngoài Hội) viết lời bạt. Hội hoạt động khoảng 1495 - 97, ca tụng chế độ, triều đình, nhà vua, đạo đức phong kiến, đồng thời ca tụng đất nước, con người, truyền thống dân tộc, cuộc sống thái bình, thịnh trị. Thơ cầu kì, đẽo gọt, thảng hoặc có bài, có câu điển nhã, trung hậu, thể hiện tình cảm yêu nước, khoan dân, muốn dân giàu nước mạnh.