Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
HỒ CHÍ MINH (THÀNH PHỐ)

(tên cũ: Sài Gòn), thành phố ở giữa đông và tây Nam Bộ (Việt Nam). Diện tích 2.093,7 km2. Gồm 17 quận (Một, Hai, Ba, Bốn, Năm, Sáu, Bảy, Tám, Chín, Mười, Mười Một, Mười Hai, Gò Vấp, Tân Bình, Bình Thạnh, Phú Nhuận, Thủ Đức); 5 huyện (Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ). Dân số 5,0639 triệu (1999), phần lớn tập trung ở nội thành, gồm có các dân tộc: Kinh, Hoa, Khơ Me, Chăm. Thành phố Hồ Chí Minh nằm trên nền đệ Tứ cổ, tuổi Pleixtoxen trung - thượng, thành phần cuội, sỏi, sạn lẫn sét cao lanh, địa hình cao tới 5 m hoặc hơn như ở Hóc Môn, Củ Chi, hoặc tuổi Pleixtoxen thượng như vùng đất xám Thủ Đức. Các thành tạo đó nhiều nơi đã bị đá ong hoá, vì vậy nền móng của thành phố khá tốt. Một phần của huyện Nhà Bè và huyện Duyên Hải là trầm tích trẻ Hôlôxen nguồn gốc biển. Địa hình thành phố thấp dần từ tây bắc xuống đông nam. Nội thành được xây cất trên bờ phải sông Sài Gòn, một nhánh của sông Nhà Bè. Sông Đồng Nai, ranh giới phía đông của huyện Thủ Đức, đổ vào sông Nhà Bè với một hệ thống phân lưu phức tạp đổ ra biển: cửa Soài Rạp, sông Mũi Nài, sông Lòng Tàu, sông Ngã Bảy. Khí hậu á xích đạo gió mùa, mùa khô từ tháng 11 đến 4. Tháng oi bức nhất: tháng 4. Nhiệt độ trung bình năm 27oC. Lượng mưa trung bình năm 1.935 mm. Nằm ở vị trí giữa vùng công nghiệp miền Đông Nam Bộ và vùng lúa gạo đồng bằng Cửu Long, Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm công nghiệp, thương nghiệp lớn nhất Việt Nam, sản xuất khoảng 1/3 hàng tiêu dùng: điện tử, cơ khí, hoá chất, dệt, may mặc, thực phẩm chế biến. Khu công nghiệp Biên Hoà chỉ cách 30 km có thể coi như vệ tinh của Thành phố Hồ Chí Minh. Các huyện ngoại thành với 100 nghìn ha canh tác là vành đai lương thực và thực phẩm. Thành phố Hồ Chí Minh là đầu mối giao thông đi miền Đông, miền Tây, ra biển, lên biên giới Cămpuchia, đường sắt Thống Nhất; sân bay Tân Sơn Nhất có khả năng đón 1 triệu khách/năm. Cảng Sài Gòn khả năng bốc dỡ 20 triệu tấn năm. Nhiều viện nghiên cứu khoa học tự nhiên và xã hội, nhiều trường đại học: Đại học Quốc gia Tổng hợp, Bách khoa, Sư phạm..., 348 trường phổ thông, 23 bệnh viện. Di tích lịch sử và bảo tàng: Bến Nhà Rồng, địa đạo Củ Chi, 18 thôn Vườn Trầu, Dinh Thống Nhất (Dinh Độc Lập cũ), vùng cây Lái Thiêu, Thảo Cầm Viên.

Lưu dân Việt Nam đã tự đến làm ăn sinh sống ở một số nơi tại lưu vực các sông Đồng Nai, Mêkông (Mekong) từ đầu thế kỉ 17. Năm 1698, chúa Nguyễn cử thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lược. Ông lấy đất Nông Nại đặt làm phủ Gia Định, lập xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn. Từ đó Sài Gòn trở thành một trung tâm hành chính, cư ngụ, thương mại quan trọng. Thời ấy đã có phố thị Bến Nghé, xã Minh Hương (Chợ Lớn) của Hoa kiều. Năm 1772, Sài Gòn đã trở thành một thành phố. Từ 1776 đến 1783, Tây Sơn và Nguyễn Ánh thay nhau làm chủ Sài Gòn nhiều lần. Từ 1788 đến 1801, Nguyễn Ánh chiếm Sài Gòn, lập Gia Định trấn, xây thành Bát Quái (1790). Những năm 1802 - 32, Sài Gòn là thủ phủ của Gia Định thành, tương đương với Hà Nội là thủ phủ của Bắc thành. Năm 1832, bỏ cấp Gia Định thành, Sài Gòn thuộc tỉnh Phiên An; đến 8.1833, đổi thành tỉnh Gia Định. Tháng 8.1858, Pháp đánh chiếm Sài Gòn. Ngày 11.4.1861, Nghị định của phó đô đốc Sacne (Charner) xác định địa giới Sài Gòn (phía đông là sông Sài Gòn, phía bắc là rạch Thị Nghè, phía nam là rạch Bến Nghé, phía tây từ chùa Cây Mai đến đồn Kỳ Hoà) với tổng diện tích 25 km2. Ngày 3.10.1865, tách Chợ Lớn khỏi Sài Gòn. Năm 1931, sáp nhập Sài Gòn với Chợ Lớn thành khu Sài Gòn - Chợ Lớn. Ngày 30.5.1954, gọi là đô thành Sài Gòn - Chợ Lớn. Ngày 2.7.1976, Quốc hội khoá VI đặt tên Thành phố HCM bao gồm cả thành phố Sài Gòn, toàn thể tỉnh Gia Định và một phần các tỉnh Hậu Nghĩa, Bình Dương (Củ Chi).



Thành phố Hồ Chí Minh               Chợ Bến Thành