Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
"KINH THI"

("Shijing"), tuyển tập thơ đầu tiên của văn học Trung Quốc, gồm 305 bài xuất hiện trong khoảng thời gian từ đầu Tây Chu đến giữa Xuân Thu (các thế kỉ 11 - 6 tCn.). Trước khi trở thành kinh điển của Nho gia, thường được gọi là "Thơ" hoặc "Ba trăm bài thơ". Bên cạnh số lớn là ca dao, do các nhạc quan của nhà Chu sưu tập, còn có những bài thơ của quý tộc làm trong các dịp tế lễ, yến hội và những bài thơ của quần thần dâng lên thiên tử hoặc vua các nước chư hầu có ngụ ý khuyên răn. Tập thơ đã được nhiều người chỉnh lí, sắp xếp, trong đó có Khổng Tử. Gồm bốn bộ phận: Phong, Tiểu nhã, Đại nhã, Tụng. Phong (cg. Quốc phong) là bộ phận tinh hoa trong "KT", gồm 160 bài, hầu hết là thơ trữ tình dân gian biểu hiện sinh động, chân thực mọi sắc thái tình cảm của người lao động về các mặt sinh hoạt xã hội đương thời. Tiểu nhã gồm 80 bài, Đại nhã gồm 31 bài, nội dung khá phức tạp, một số ít là ca dao, phần lớn là của quý tộc; có bài ca ngợi công đức nhà vua, nhất là những ông vua sáng lập triều Chu; có bài phê phán những hiện tượng xã hội đen tối, đặc biệt là dưới hai triều Lê Vương (878 - 842 tCn.) và U Vương (781 - 711 tCn.). Những bài thuộc loại sau thường được gọi là "biến nhã". Tụng gồm 40 bài, là nhạc cung đình dùng lúc tế lễ, mang tính chất tán tụng. Nội dung khác nhau song các bộ phận trong "KT" vẫn có một số nét nghệ thuật chung: dùng các thủ pháp phú, tỉ, hứng để xây dựng hình tượng và thể hiện tình cảm, dùng kết cấu trùng điệp để sắp xếp tình ý, xây dựng chương, đoạn.

Ngay từ lúc ra đời, "KT" đã được lưu truyền rộng rãi, ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển của văn học Trung Quốc, đặc biệt là dòng văn học hiện thực. Trong Nho giáo, "KT" cùng với bốn kinh khác là: Thư, Dịch, Lễ, Xuân Thu, gộp thành Ngũ kinh.