Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
KINH TẾ CÓ KẾ HOẠCH

nền kinh tế quốc dân được quản lí bằng kế hoạch tức là theo những tốc độ, tỉ lệ cân đối được dự kiến trước trong kế hoạch một cách có căn cứ khoa học và sát thực tế. Kế hoạch hoá nền kinh tế là yêu cầu khách quan của sự phát triển kinh tế của một xí nghiệp, một tổ chức kinh tế lớn tư bản chủ nghĩa hay xã hội chủ nghĩa. Nền kinh tế tư bản chủ nghĩa là nền kinh tế thị trường sản xuất lớn dựa trên cơ sở chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa; về cơ bản nó phát triển một cách tự phát, không theo quy luật phát triển cân đối và có kế hoạch; cho nên nó không phải và không gọi là KTCKH. Tuy nhiên, để khắc phục sự mất cân đối lớn và hạn chế khả năng xảy ra khủng hoảng kinh tế, nhà nước tư bản chủ nghĩa cũng buộc phải cố gắng quản lí nền kinh tế bằng kế hoạch (thường là kế hoạch dài hạn và mang tính hướng dẫn). Ở các nước xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế chủ yếu dựa trên cơ sở chế độ sở hữu công cộng xã hội chủ nghĩa về các tư liệu sản xuất chủ yếu, được quản lí phù hợp với các yêu cầu của các quy luật đặc thù của chủ nghĩa xã hội, trong đó có quy luật phát triển có kế hoạch và cân đối nền kinh tế quốc dân. Sự phát triển có kế hoạch nền kinh tế quốc dân thông qua công tác kế hoạch hoá cho phép phân bố sức lao động xã hội và tư liệu sản xuất phù hợp với nhu cầu xã hội, sử dụng tiết kiệm các nguồn lực của xã hội, áp dụng nhanh những thành tựu khoa học - kĩ thuật vào sản xuất, do đó đạt hiệu quả kinh tế cao nhất với chi phí thấp nhất. Nền kinh tế xã hội chủ nghĩa là nền KTCKH, nhưng cũng là một loại hình nền kinh tế thị trường nhưng là nền kinh tế thị trường có kế hoạch hoá nền KTCKH của chủ nghĩa xã hội không loại trừ và, không đối lập với cơ chế thị trường; sự quản lí có kế hoạch nền kinh tế quốc dân dựa vào việc vận dụng tự giác, có ý thức các quy luật kinh tế, trong đó có quy luật thị trường và các quan hệ hàng hoá - tiền tệ; và đặc biệt là quy luật phát triển có kế hoạch và cân đối; nó không phải là kế hoạch tập trung quan liêu bằng một hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh mang tính chủ quan từ trên xuống. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một kiểu KTCKH, chịu sự tác động của các hệ thống quy luật kinh tế, trong đó có quy luật cơ bản của chủ nghĩa xã hội, quy luật pháp triển có kế hoạch và cân đối, và tất yếu là có quy luật giá trị điều tiết các hoạt động kinh tế; do đó kế hoạch hoá phải gắn với cơ chế thị trường, lấy thị trường làm một căn cứ khách quan, cùng với quy luật phát triển cân đối chi phối sự phát triển của nền kinh tế; trên cơ sở nhận thức và vận dụng tổng hợp hệ thống các quy luật kinh tế, nhà nước soạn thảo các chiến lược phát triển kinh tế ở cấp quốc gia, xác định các mục tiêu và các định hướng ưu tiên, đồng thời thông qua cơ chế thị trường, các chính sách, các đòn bẩy kinh tế mà điều tiết nền kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong những năm trước đây, chủ yếu thời gian trước thập kỉ 80 thế kỉ 20, do nhận thức lí luận về chủ nghĩa xã hội có phần thiên lệch, giáo điều, và do thiếu kinh nghiệm thực tế, cho nên công tác kế hoạch hoá của nhà nước được quan niệm tuyệt đối hoá như công cụ quản lí chủ yếu, duy nhất và có hiệu lực nhất, cho nên việc vận dụng các quy luật kinh tế khác, nhất là quy luật giá trị, các quan hệ hàng hoá - tiền tệ không được xem trọng và vận dụng đúng đắn. Công cuộc đổi mới ở Việt Nam từ đầu những năm 80 đã có kết quả là "bước đầu hình thành nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước"; Nhà nước đã đổi mới công tác kế hoạch hoá theo phương thức kết hợp kế hoạch hoá với vận dụng cơ chế thị trường, nhằm vừa phát triển kinh tế có kế hoạch mà vẫn vận dụng thích đáng quy luật giá trị, các quan hệ thị trường, phát huy tinh thần chủ động, tính năng động sáng tạo của người sản xuất - kinh doanh, đề cao tinh thần tự chủ về tài chính của họ. "Công tác kế hoạch hoá đã chuyển từ kế hoạch pháp lệnh sang kế hoạch định hướng là chủ yếu, bước đầu sử dụng các đòn bẩy kinh tế và lực lượng vật chất để bảo đảm cân đối tổng cung - tổng cầu trong nền kinh tế" (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần VII - 1991). Để phát triển nền kinh tế quốc dân có kế hoạch, đúng quy luật khách quan và đúng đường lối chính sách của Đảng và nhà nước, Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần IX của Đảng cũng đã nêu lên những phương hướng, nhiệm vụ, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2001 - 05, các ngành, các lĩnh vực và vùng nông nghiệp và kinh tế nông thôn, công nghiệp, dịch vụ, kinh tế đối ngoại, kết cấu hạ tầng, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hoá, xã hội, môi trường, các vùng lãnh thổ, kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng và an ninh.