Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP 1945 - 54

cuộc kháng chiến chính nghĩa toàn dân, toàn diện, trường kì của dân tộc Việt Nam chống thực dân Pháp xâm lược để bảo vệ nền độc lập mới giành được sau Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945. Được quân Anh đồng loã và giúp sức, đêm 22 rạng 23.9.1945, quân Pháp tiến công Sài Gòn rồi mở rộng dần ra toàn Nam Bộ và Nam Trung Bộ (x. Nam Bộ kháng chiến). Mặc dù đã kí kết với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Hiệp định sơ bộ Việt - Pháp 6.3.1946 và Tạm ước Việt – Pháp 14.9.1946, song quân Pháp vẫn ngày càng lấn tới, thực hiện ý đồ thôn tính toàn bộ Việt Nam. Ngày 19.12.1946, Kháng chiến toàn quốc bùng nổ. KCCP 1945 - 54 được chia thành 3 giai đoạn: phòng ngự, cầm cự, tổng phản công... Chủ trương vừa kháng chiến vừa kiến quốc được toàn dân thực hiện. Nhân dân sơ tán khỏi vùng có chiến sự, xây dựng nếp sống chiến đấu, sản xuất tự túc. Các cơ quan, kho tàng, nhà máy, vật tư được di chuyển về các vùng căn cứ an toàn. Lực lượng vũ trang phát triển đến khoảng 12 vạn quân chủ lực, hàng triệu tự vệ và dân quân. Thu Đông 1947, quân và dân Việt Nam đã đánh bại cuộc hành quân của hơn 12 nghìn quân viễn chinh lên Việt Bắc (x. Chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông 1947). Lực lượng kháng chiến của Việt Nam vượt qua được thử thách quyết liệt của những năm đầu chiến tranh. Chiến lược đánh nhanh thắng nhanh của Pháp bị phá sản. Sau thất bại ở Việt Bắc, thực dân Pháp thực hiện chính sách "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt". Mục tiêu của Pháp là ổn định vùng chiếm đóng, mở rộng phạm vi kiểm soát, tạo điều kiện thực hiện chiến lược lấn dần từng bước. Về phía ta, chiến tranh du kích phát triển ngày càng rộng rãi. Hàng trăm đội xung phong công tác, đại đội độc lập, đội vũ trang tuyên truyền, cùng hàng ngàn cán bộ dân, chính, đảng đi vào vùng địch tạm chiếm hoạt động, bám dân, bám địch, bám đất, tổ chức chống càn quét, lập làng chiến đấu, phá chính quyền cơ sở của địch, xây dựng chính quyền nhân dân. Lực lượng vũ trang gồm 3 thứ quân được khẩn trương xây dựng. Từ những đợt hoạt động quy mô nhỏ và những trận chiến đấu độc lập trên khắp các chiến trường toàn quốc, Quân đội nhân dân Việt Nam đã tiến lên đánh tập trung quy mô tiểu đoàn, trung đoàn, có hiệp đồng giữa bộ binh, pháo binh, công binh. Đây là bước tiến hết sức quan trọng của các lực lượng vũ trang Việt Nam từ du kích chiến đến du kích vận động chiến rồi vận động chiến, làm thay đổi so sánh lực lượng, tạo điều kiện cho giai đoạn sau. Chiến dịch biên giới (9.1950 – 10.1950) thắng lợi, làm phá sản về cơ bản kế hoạch Rơve, đẩy quân Pháp vào thế phòng thủ và bị động về chiến lược trên chiến trường chính là Bắc Bộ. Chế độ dân chủ cộng hoà được củng cố và phát triển về mọi mặt. Bộ máy hành chính được kiện toàn từ trung ương đến cơ sở. Khối đoàn kết toàn dân được củng cố và mở rộng. Việt minh và Liên Việt được thống nhất thành Mặt trận Liên Việt. Khối liên minh nhân dân Việt Nam - Lào - Cămpuchia được thành lập. Trung Quốc, Liên Xô và các nước dân chủ ở Đông Âu lần lượt đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Đại hội II Đảng Cộng sản Đông Dương họp, quyết định xây dựng Đảng Lao động Việt Nam, công khai trực tiếp lãnh đạo và tổ chức cuộc kháng chiến. Kinh tế, tài chính, văn hoá, y tế, giáo dục được củng cố và phát triển phục vụ kháng chiến. Hậu phương kháng chiến được mở rộng, đặc biệt là các vùng tự do ở Việt Bắc, Khu IV và Khu V được củng cố vững chắc thành hậu phương chiến lược của kháng chiến.

 Trong giai đoạn này, Pháp được Mĩ viện trợ 2,7 tỉ đô la, 350 máy bay, 390 tàu chiến, 1,4 nghìn xe thiết giáp, 16 nghìn xe ô tô và các phương tiện chiến tranh khác, để Pháp tiếp tục kéo dài chiến tranh, phát triển quân đội ngụy, xây dựng lực lượng cơ động, tập trung lực lượng giữ đồng bằng Bắc Bộ (x. Phòng tuyến Taxinhi), bình định và củng cố các vùng tạm chiếm ở Trung Bộ và Nam Bộ. Phát huy thế chủ động tiến công, quân và dân Việt Nam liên tiếp mở các chiến dịch tiến công và phản công: Chiến dịch Hoà Bình (10.12.1951 – 23.2.1952); Chiến dịch Tây Bắc (14.10 – 1.12.1952); Chiến dịch Thượng Lào (8.4 – 3.5.1953); đẩy mạnh chiến tranh du kích rộng khắp trong các vùng bị tạm chiếm. Giữa năm 1953, Pháp thực hiện kế hoạch Nava, cố giành một thắng lợi quân sự "làm cơ sở cho một giải pháp chính trị có danh dự", với một lực lượng lúc cao nhất (3.1954) đến 191 tiểu đoàn bộ binh, 550 máy bay, 10 trung đoàn thiết giáp, 390 tàu chiến và ca nô. Bằng cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân trên khắp chiến trường (x. Chiến cục Đông Xuân 1953 - 54) mà đỉnh cao là Chiến dịch Điện Biên Phủ (13.3 – 7.5.1954) quân và dân Việt Nam đã đánh bại những cố gắng cao nhất của Pháp và can thiệp Mĩ, buộc họ phải kí kết Hiệp định Giơnevơ, chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Đông Dương (21.7.1954). Trong 9 năm xâm lược Việt Nam lần 2, Pháp đã phải chi phí gần 3.000 tỉ frăng, tương đương 7 tỉ đôla (trung bình 1 tỉ frăng/ngày), Chính phủ Pháp thay đổi 20 lần, trung bình mỗi chính phủ chỉ tồn tại 7 tháng (có chính phủ chỉ tồn tại trong 7 ngày), 7 lần cao uỷ Pháp bị triệu hồi, 8 tổng chỉ huy quân đội Pháp kế tiếp nhau bị thua trận. Quân và dân Việt Nam đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn nửa triệu quân Pháp và tay sai, bắn rơi và phá huỷ 435 máy bay, bắn chìm và bắn cháy 603 tàu chiến và ca nô, phá huỷ 9.283 xe quân sự, thu 255 pháo, 504 xe quân sự và 130 nghìn súng các loại. Cuộc KCCP 1945-54 là cuộc chiến tranh chính nghĩa của toàn dân, được nhân dân thế giới đồng tình và ủng hộ nên đã kết thúc thắng lợi, chấm dứt ách thống trị gần một thế kỉ của thực dân Pháp ở Việt Nam.