Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
TÔ HOÀI

(tên thật: Nguyễn Sen; sinh 1920), nhà văn Việt Nam. Quê: phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội; sinh trong một gia đình làm nghề dệt lụa thủ công. Thời trẻ, kiếm sống bằng nhiều nghề: gia sư, thư kí, bán hàng... Năm 1938, hoạt động trong tổ chức ái hữu thợ dệt và Đoàn Thanh niên Dân chủ Hà Đông; năm 1943, hoạt động bí mật trong Hội Văn hoá Cứu quốc. Sau Cách mạng tháng Tám, công tác ở báo "Cứu quốc", rồi ở Hội Văn nghệ Việt Nam. Năm 1958, là phó tổng thư kí Hội Nhà văn Việt Nam, rồi chủ tịch Hội Văn nghệ Hà Nội. Tô Hoài sáng tác sớm, được chú ý nhiều ở những truyện viết về loài vật ("Dế mèn phiêu lưu kí", 1941; "O chuột", 1942). Các tiểu thuyết "Giăng thề" (1941), "Quê người" (1941), hồi kí "Cỏ dại" (1944); tập truyện ngắn "Nhà nghèo" (1944) cho thấy ông có sở trường miêu tả phong tục và rất nhạy cảm trước cuộc sống buồn thảm, bế tắc của người dân vùng quê ông đương thời. Sau cách mạng, sáng tác của Tô Hoài đa dạng. Ông viết tiểu thuyết, truyện ngắn, bút kí, kịch bản phim, truyện thiếu nhi, chân dung văn học, tiểu luận, phê bình, kinh nghiệm sáng tác... Ở loại nào, ngòi bút ông cũng sắc sảo, sinh động. Nổi bật nhất là mảng truyện viết về miền núi. Các tác phẩm sau cách mạng: "Truyện Tây Bắc" (tập truyện, 1953), giải nhất Giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam 1954 - 55, tiểu thuyết "Mười năm" (1957), "Miền Tây" (1967), "Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ" (1971), "Quê nhà" (1981), vv.; truyện ngắn: "Vỡ tỉnh" (1962), "Người ven thành" (1972); hồi kí, chân dung văn học: "Người bạn đọc ấy" (1963), "Tự truyện" (1978), "Những gương mặt" (1988); truyện thiếu nhi: "Con mèo lười", "Đảo hoang"... Giải thưởng Hồ Chí Minh (1996) về cụm tác phẩm: "Truyện Tây Bắc" (1953), "Vợ chồng A Phủ" (1969), "Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ" (1971).