PHẦN 2: PHẢN BÁC CUỐN SÁCH BÀN VỀ LỊCH SỬ, ĐỊA LÍ VÀ TÁC DỤNG CỦA ĐƯỜNG CHÍN ĐOẠN Ở NAM HẢI*

09/08/2016
ĐINH NGỌC VƯỢNG** PGS TS Luật học, Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam; Email: ngocvuongdinh@yahoo.com.
        Phần thứ III của cuốn sách Bản chất và địa vị pháp lí của đường chín đoạn: chủ quyền và quyền tài phán”.

        Trước hết, phải thấy rằng, quan điểm xuyên suốt của Zhiguo Gao và Bing Bing Jia trong phần này vẫn dựa vào việc khẳng định Trung Quốc có chủ quyền với tất cả các đảo, quần đảo ở Nam Hải (Biển Đông). Và theo các tác giả, đường chín đoạn được củng cố trong các bản đồ của Trung Quốc. Tác giả cũng cho rằng, tiền thân của đường chín đoạn là đã “mượn khái niệm “vùng nước lịch sử” nhưng hiện nay tình hình đã khác”. Và tác giả cũng trích dẫn Nghị quyết được thông qua tại Hội nghị liên bộ năm 1947, rằng “Phạm vi lãnh thổ Nam Hải” kéo dài đến bãi ngầm Tăng Mẫu”. Tác giả cũng lúng túng về cách lí giải đường chín đoạn “đại khái là đường cách đều giữa các đảo ở Nam Hải và đường bờ biển của các nước đối diện”. Và tác giả khẳng định “Trung Quốc có chủ quyền đối với các đảo trong phạm vi đường này” (tr. 84).

        Quả thật, đọc phần III của cuốn sách chẳng thể hiểu tác giả muốn đưa ra quan điểm nào về đường chín đoạn. Chính tác giả cũng mặc nhiên thừa nhận Trung Quốc không nhất quán về đường chín đoạn có ý nghĩa như thế nào và làm cho người ta hiểu rằng đường chín đoạn “chỉ có ý nghĩa các quần đảo nằm trong phạm vi đường này là thuộc chủ quyền của Trung Quốc” (tr.82). Và cái đó cũng chỉ do người Trung Quốc - các cá nhân tự vẽ ra và tác giả không hề dẫn chứng quan điểm của các nước khác: không có nước nào chống (vì không ai biết cả, Trung Quốc chỉ công bố nội bộ), và cũng không có ai ủng hộ cả.

        Phần IV cuốn sách tác giả nói về “Vấn đề pháp lí liên quan tới đường chín đoạn”.

        Toàn bộ phần IV hầu như tác giả dành để nói về vấn đề chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa chứ không nói, hay lảng tránh nói về vấn đề pháp lí liên quan đến đường chín đoạn.

        Zhiguo Gao và Bing Bing Jia nói về cơ sở pháp lí của việc Trung Quốc có chủ quyền đối với Trường Sa và Hoàng Sa của Việt Nam là việc Trung Quốc đã phát hiện trước, chiếm hữu hòa bình và liên tục đối với hai quần đảo này. Tác giả đã đưa dẫn chứng về các vụ án mà Tòa án công lí quốc tế đã giải quyết. Một mặt, tác giả nêu quan điểm của Tòa là “Lý luận về củng cố lịch sử có rất nhiều tranh cãi, không thể thay thế phương thức thụ đắc lãnh thổ đã được xác lập trong luật quốc tế, và phương thức thụ đắc lãnh thổ cần xem xét rất nhiều sự thật về vấn đề pháp lí quan trọng khác” trong “vụ nghề cá Anh - Nay Uy”. Zhiguo Gao và Bing Bing Jia cũng đưa ra những dẫn chứng về vụ kiện giữa Cameroon và Nigeria”... Tuy nhiên, bản chất của vấn đề tác giả không chỉ ra mà chỉ cắt xén nội dung. Ngay những nhận định của Tòa án về chứng cứ lịch sử tác giả cũng thừa nhận, nhưng lại cố chứng minh nhận định đó có lợi cho Trung Quốc.

        Nếu lấy án lệ của Tòa án quốc tế và Tòa Trọng tài quốc tế có thể nêu hàng loạt các vụ tranh chấp lãnh thổ mà Tòa án hay Trọng tài đã xét xử, không chỉ nêu vài vụ như trong sách của Zhiguo Gao và Bing Bing Jia. Trước năm 1922, việc giải quyết tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ giữa các quốc gia do Trọng tài quốc tế tiến hành. Từ khoảng năm 1922 đến năm 1945 công việc này do Tòa án thường trực Công lí quốc tế đảm nhiệm, từ năm 1945 đến nay thì thuộc Tòa án Công lí quốc tế. Tính đến nay, các cơ quan tài phán này đã giải quyết khoảng 20 vụ tranh chấp chủ quyền lãnh thổ. Khi giải quyết các tranh chấp đó, các trọng tài và thẩm phán đều viện dẫn tới nguyên tắc chiếm hữu thật sự để quyết định sẽ trao chủ quyền lãnh thổ cho quốc gia nào. Nguyên tắc chiếm hữu thật sự được hình thành từ năm 1885, đáp ứng nhu cầu giải quyết tranh chấp chủ quyền lãnh thổ ở các khu vực châu Phi giữa các nước châu Âu trong quá trình đi tìm vùng đất mới của các nước này, ghi nhận tại Định ước Berlin với hai nội dung chủ yếu: Thứ nhất, quốc gia chiếm hữu lãnh thổ phải thông báo cho các nước khác; Thứ hai, nước chiếm hữu phải có hiện diện của tổ chức chính quyền tại chỗ để thi hành pháp luật. Sau đó, Tuyên bố của Viện Pháp luật quốc tế ở Lausanne (Thụy Sĩ) năm 1888 tiếp tục khẳng định nguyên tắc chiếm hữu thật sự nhưng nhấn mạnh thêm rằng: Việc chiếm hữu phải là thực sự - thực tế chứ không phải trên danh nghĩa. Tuy nhiên, khi Thế chiến thứ nhất kết thúc, Hiệp ước Saint-Germain ngày 10-9-1919 đã tuyên bố huỷ bỏ Định ước Berlin với lí do trên thế giới không còn lãnh thổ vô chủ nữa. Nhưng do tính hợp lí và khoa học của nguyên tắc chiếm hữu thực sự mà các cơ quan tài phán quốc tế vẫn viện dẫn nguyên tắc này khi giải quyết tranh chấp chủ quyền lãnh thổ giữa các quốc gia. Quá trình đó làm cho nguyên tắc chiếm hữu thật sự ban đầu đã có những thay đổi nhất định, nó trở lên linh hoạt và có thể vận dụng để giải quyết hầu hết các tranh chấp chủ quyền lãnh thổ với những đặc điểm địa lí và tự nhiên hoàn toàn khác nhau. Qua đó chỉ ra, chiếm hữu thật sự gồm ba điều kiện sau: 1) Chủ thể chiếm lãnh thổ phải là quốc gia; 2) Đối tượng chiếm hữu phải là lãnh thổ vô chủ hoặc bị bỏ rơi; 3) Hành vi chiếm hữu phải hội tụ đủ cả yếu tố vật chất và tinh thần của chủ thể chiếm hữu. Yếu tố vật chất thể hiện rằng hành vi chiếm hữu phải diễn ra trong điều kiện hòa bình, thực sự, đầy đủ, liên tục trong thời gian dài nhất định phù hợp với điều kiện tự nhiên của lãnh thổ; yếu tố tinh thần thể hiện rằng quốc gia chiếm hữu phải thể hiện rõ ý định chiếm hữu lãnh thổ của mình. Ta sẽ lần lượt xem xét ba điều kiện của chiếm hữu thật sự được vận dụng trong một số phán quyết của trọng tài và Tòa án Công lí quốc tế về tranh chấp lãnh thổ ở nhiều quốc gia, trong đó có cả các nước láng giềng của Việt Nam như sau:

        Vụ án tranh chấp đảo Palmas giữa Mĩ và Hà Lan năm 1928

        Palmas là đảo có ít giá trị kinh tế và vị trí chiến lược không đáng kể, dài 2 dặm, rộng ¾ dặm, dân số khoảng 750 người, nằm giữa Indonesia (thuộc địa của Hà Lan) và Philippines (thuộc địa Tây Ban Nha) nhưng gần Philippines hơn. Năm 1899, Tây Ban Nha kí Hiệp định nhượng lại Philippines cho Hoa Kì, bao gồm cả Palmas. Năm 1906, Hoa Kì biết Hà Lan khẳng định chủ quyền với Palmas và hai nước đồng ý giải quyết tranh chấp tại Tòa Trọng tài năm 1928, Thẩm phán là Max Huber, người Thụy Sỹ. Lập luận của hai bên: Hoa Kì đòi chủ quyền bằng lập luận về quyền khám phá và sở hữu liền kề. Trong khi đó, Hà Lan cho rằng họ nắm giữ quyền sở hữu thực tế trong hòa bình, kéo dài liên tục suốt hơn hai thế kỉ mà không có sự phản đối từ Tây Ban Nha, họ đã kí hàng loạt các Hiệp định với nhà cầm quyền địa phương, lập nên thuộc địa Hà Lan trên đảo, kèm theo là các hoạt động kinh tế, tiền tệ, nghĩa vụ khi có chiến tranh, đối ngoại... Phán quyết của thẩm phán: Tây Ban Nha không thể chuyển nhượng hợp pháp cái mà họ không sở hữu. Bởi quả nhiên họ nắm giữ sở hữu ban đầu khi khám phá đảo, nhưng sau đó không thực thi quyền lực thực sự với đảo nên đòi hỏi của Hòa Kì là yếu ớt, mờ nhạt và không được chấp nhận. Ngược lại các hoạt động của Hà Lan đối với Palmas là đặc trưng quyền lực của Nhà nước, nó diễn ra trong hòa bình bởi không có xung đột nào giữa các quốc gia, nó liên tục trong suốt thời gian dài, mặc dù cũng có những khoảng trống nhất định (từ 1726-1825). Như vậy, Palmas là lãnh thổ thuộc sở hữu của Hà Lan.

        Vụ án Đông Greenland giữa Na Uy và Đan Mạch (1931-1933)

        Greenland là lãnh thổ cực bắc trái đất, khoảng 4.650km2, 81% diện tích có băng phủ không thể sinh sống. Năm 1931, Na Uy chiếm và tuyên bố chủ quyền phía Đông Greenland không có người ở vì cho rằng đó là đất vô chủ. Đan Mạch đòi chủ quyền với toàn bộ Greenland trong khi chỉ chiếm hữu thực sự một phần diện tích của đảo. Năm 1933 hai nước đồng ý giải quyết tranh chấp tại Pháp viện thường trực quốc tế.

        Lập luận của các bên: Na Uy cho rằng họ đã chiếm Đông Greenland là vùng đất vô chủ. Đan Mạch đã chứng minh chủ quyền với toàn bộ đảo không bằng hành vi chiếm hữu cụ thể nào mà là một loạt các sắc lệnh, luật thực thi pháp luật, hành chính trải dài khoảng 1.000 năm trước, đặt Greenland dưới sự điều hành của họ, quy định lưu thông hàng hải quanh Greenland, việc săn bắt và đánh cá, cấp giấy phép cho các quốc gia và người đến thăm phía đông đảo, các hoạt động thám hiểm..., quá trình đó trong hòa bình.

Phán quyết của Tòa: Việc xác lập chủ quyền đối với vùng đất không thể sinh sống chỉ cần quốc gia có ý định chiếm hữu và thực hiện một số hoạt động mang tính quyền lực nhà nước là đủ. Tòa xác định Đan Mạch đã có ý định và thẩm quyền quốc gia đã nêu là đầy đủ để có chủ quyền với toàn bộ Greenland. Với những khu vực không thể sinh sống thì yêu cầu để duy trì chủ quyền trên lãnh thổ là ít nghiêm ngặt hơn so với các khu vực có thể qua lại và đông dân cư. Đây chính là sự thay đổi nhất định trong nội dung của chiếm hữu thật sự khi nó được vận dụng trong một điều kiện lãnh thổ mới.

        Vụ án đảo Clipperton giữa Pháp và Mexico năm 1931

        Clipperton rộng khoảng 9 km2, là đảo san hô không thể sinh sống ở phía Đông Thái Bình Dương. Pháp và Mexico đồng ý giải quyết tranh chấp năm 1909, đến năm 1931, trọng tài mới đưa ra phán quyết về vụ việc.

        Lập luận của các bên: Mexico cho rằng, Tây Ban Nha đã phát hiện ra đảo trước Pháp rất lâu và để lại thừa kế cho họ. Pháp lập luận phát hiện ra Đảo năm 1858 và tuyên bố chủ quyền mà không có sự phản đối nào, sau đó khai thác phân chim, tàu chiến ghé qua với mục đích khẳng định chủ quyền.

        Phán quyết của Tòa: Đối với lãnh thổ không thể sinh sống được thì không cần thiết sự hiện diện thường xuyên các hoạt động mang tính quyền lực nhà nước tại đó, tại thời điểm quốc gia chiếm hữu xác lập chủ quyền mà không có tranh chấp thì việc xác lập chủ quyền coi như đã hoàn thành. Giống như Greenland, đối với lãnh thổ không thể sinh sống như Clipperton thì những đòi hỏi khắt khe của nguyên tắc chiếm hữu thật sự hầu như không được vận dụng, ngoại trừ yếu tố hòa bình; hoặc là nó được vận dụng ở mức tối thiểu nhất - không đòi hỏi việc thực hiện quyền lực nhà nước liên tục, thường xuyên trên lãnh thổ chiếm hữu.

        Vụ án Minquies và Ecrehos giữa Anh và Pháp (1951-1953)

        Minquies và Ecrehos là hai nhóm đảo nhỏ và đảo đá, nằm giữa đảo British Channel thuộc Jersey của Anh và bờ biển Pháp, trong đó một số đảo có thể sinh sống, còn lại phần lớn là những đảo đá. Năm 1951, Anh và Pháp yêu cầu Tòa xem xét bên nào có bằng chứng chủ quyền thuyết phục hơn để có quyền sở hữu với hai nhóm đảo.

        Lập luận của các bên: Pháp có Hiệp ước nghề cá xác định vùng hợp tác bao gồm hai nhóm đảo, các tiểu bang ở Jersey, Anh bị cấm đánh bắt và hạn chế nhập cảnh vào Ecrehos do hai Chính phủ trao đổi ngoại giao, một phần Ecrehos bị đánh dấu trên hải đồ là ở ngoài vùng nước Jersey và bị coi là đất vô chủ, Pháp đã gửi văn bản tới Anh khẳng định chủ quyền ở Ecrehos; Minquies là vùng phụ cận thuộc đảo Chausey của Pháp, các nhà cầm quyền Pháp trao đổi thư từ liên quan tới đơn xin sử dụng đất của công dân Pháp ở Minquies, Pháp đảm nhận về điện năng và phao cứu sinh cho Minquies mà Anh không phản đối; một ngôi nhà được dựng lên trên một đảo nhỏ ở Minquies với sự trợ giúp của thị trưởng Pháp; Chính phủ Pháp cũng tới thăm Minquies. Bằng chứng của Anh là Tòa án Jersey đã xét xử tội phạm ở Ecrehos trong vòng một thế kỉ (1826-1921); xét xử những vụ đắm tàu, hồ sơ về vụ ám sát người của phái đoàn ngoại giao được tìm thấy ở Minquies và việc dựng nhà, lều trại trên những đảo nhỏ, chính quyền Jersey đã thu thuế và cho đăng kí hợp đồng nhà đất, đăng kí tàu bè, lập trạm hải quan ở Ecrehos, hợp đồng và thuế bất động sản ở Minquies cũng được đăng kí và thanh toán ở Jersey; Anh có sắc lệnh của kho bạc tác động đến Ecrehos, sự viếng thăm của các quan chức Anh tới Ecrehos.

        Phán quyết của Toà: Tòa án nhận thấy hoạt động trao đổi thư từ, đặt phao cứu sinh hay một số hành vi tương tự không được coi là Pháp đã thực thi quyền lực nhà nước đầy đủ với các đảo. Trong khi Anh đã thực thi các chức năng nhà nước về tư pháp, hành chính để quản lí các đảo trong thời gian dài, nó chứng tỏ Anh đã thực thi quyền lực nhà nước đối với các đảo một cách thực sự và đầy đủ hơn Pháp, vậy nên, chủ quyền hai nhóm đảo thuộc Anh.

        Vụ tranh chấp biên giới trên bộ và trên biển giữa Cameroon và Nigeria năm 2002

        Biên giới trên biển và trên bộ vùng hồ Chad đã được phân định từ thời thực dân giữa Anh, Pháp, Đức. Nhưng Cameroon và Nigeria đã bất đồng khi áp dụng đường biên giới đó. Năm 1994, Cameroon đệ đơn đến Tòa án Công lí quốc tế, khởi đầu cho việc giải quyết tranh chấp.

        Lập luận của các bên: Cameroon khẳng định chủ quyền vùng hồ Chad do kế thừa từ thời thực dân, họ đã thực thi chủ quyền bằng các cuộc viếng thăm của quan chức địa phương, bầu cử, duy trì pháp luật và an ninh, họp mặt các trưởng làng, thu các loại thuế; từ năm 1987, Cameroon đã phản đối Nigeria dùng quân đội tiếp quản trạm huấn luyện nghề cá và tìm cách quản lí hành chính khu vực tranh chấp; phản đối Nigeria vi phạm nguyên tắc estoppel vì trước kia đã công nhận đường biên giới từ thời thực dân và giao phó cho Uỷ ban cắm mốc, coi hành vi của Nigeria là xâm chiếm, vi phạm luật pháp quốc tế. Nigeria chỉ công nhận một số nội dung phân định ranh giới từ thời thực dân, không công nhận sự ràng buộc với đề xuất của Uỷ ban cắm mốc giới, khẳng định chủ quyền bằng chiếm hữu thật sự thông qua hoạt động hỗ trợ y tế - giáo dục, quản lí, giám sát, thu thuế các làng ở vùng hồ Chad mà không có phản đối từ Cameroon.

Phán quyết của Tòa: Việc xác lập chủ quyền đối với vùng đất không thể sinh sống chỉ cần quốc gia có ý định chiếm hữu và thực hiện một số hoạt động mang tính quyền lực nhà nước là đủ. Tòa xác định Đan Mạch đã có ý định và thẩm quyền quốc gia đã nêu là đầy đủ để có chủ quyền với toàn bộ Greenland. Với những khu vực không thể sinh sống thì yêu cầu để duy trì chủ quyền trên lãnh thổ là ít nghiêm ngặt hơn so với các khu vực có thể qua lại và đông dân cư. Đây chính là sự thay đổi nhất định trong nội dung của chiếm hữu thật sự khi nó được vận dụng trong một điều kiện lãnh thổ mới.

        Vụ tranh chấp đảo Pulau Ligitan và Pulau Sipadan giữa Malaysia và Indonesia năm 2002

        Pulau Ligitan và Pulau Sipadan là hai đảo nhỏ không có dân cư sinh sống, giá trị kinh tế không lớn, tranh chấp từ năm 1969 do cả hai quốc gia đều viện dẫn quyền sở hữu từ thời phong kiến (hồi thế kỉ XVI), điều ước quốc tế thời thuộc địa, nhưng không được Tòa công nhận nên hai nước đã viện dẫn chiếm hữu thật sự trước năm 1969 để khẳng định chủ quyền.

        Lập luận của các bên: Indonesia viện dẫn báo cáo của tàu Hà Lan khẳng định hai đảo thuộc quyền sở hữu của Hà Lan, các cuộc điều tra thuỷ văn xung quanh hai đảo, cuộc viếng thăm của hải quân, ngư dân có truyền thống đánh bắt xung quanh hai đảo. Malaysia cho rằng thời thuộc địa, Anh đã thu thập, quản lí, kiểm soát trứng rùa trên đảo từ năm 1914, có pháp lệnh bảo tồn rùa, giải quyết tranh chấp liên quan đến thu thập trứng rùa, cấp phép cho tàu đánh cá xung quan đảo, xây hải đăng và trợ giúp đường biển cho hai đảo mà Indonesia không phản đối; sau thời thuộc địa, Malaysia đã luôn khẳng định chủ quyền trong quá trình đàm phán với Indonesia về thềm lục địa trong khi Indonesia không quan tâm đòi chủ quyền hai đảo, Malaysia cũng đã khai thác du lịch, giữ an ninh, môi trường cho Sipidan đến hiện tại, năm 1997, hai đảo là khu bảo tồn của Malaysia.

        Phán quyết của Tòa: Indonesia không có hoạt động lập pháp đối với đảo, đạo luật năm 1960 và bản đồ kèm theo không đề cập đến hai đảo, chuyến đi của tàu Hà Lan được xác định là hoạt động chung của Hà Lan và Anh để chống cướp biển, việc đánh bắt cá chỉ là hoạt động tư nhân vì không có quy định của Chính phủ, Indonesia đã không thể hiện có ý định thiết lập chủ quyền. Malaysia đã điều tiết, kiểm soát trứng rùa, thực hiện kế hoạch dự trữ gia cầm cho quốc gia là hoạt động thẩm quyền hành chính nhà nước trên các đảo. Việc xây hải đăng chỉ dẫn giao thông thường không liên quan đến quyền lực nhà nước (Minquies), nhưng tiền lệ vụ tranh chấp giữa Qatar và Bahrain cho phép Tòa xác định hoạt động này là phù hợp với các đảo nhỏ. Bên cạnh đó là sự im lặng của Indonesia. Tòa cho rằng với hoạt động của Anh, Malaysia kế thừa đã bao gồm cả hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp, nó diễn ra trong thời gian dài, thể hiện ý định thực thi quyền lực nhà nước đối với hai đảo. Malaysia thắng kiện.

        Vụ tranh chấp đảo Branca/Pulau Batu Puteh, Middle Rocks và South Ledge giữa Malaysia và Singapore năm 2008

        Tranh chấp này tương tự như tranh chấp đảo Ligitan và Sipadan, nhưng điểm khác biệt là Tòa xác định quyền sở hữu nguyên gốc các đảo thuộc về Malaysia, nhưng Tòa lại trao chủ quyền cho Singapore bởi họ đã có một số hoạt động chiếm hữu thật sự như: Thám hiểm xác tàu đắm trong lãnh hải của đảo, thăm dò các vùng nước xung quanh đảo, có kế hoạch khai hoang các khu vực xung quanh đảo, tất cả các hoạt động này diễn ra trong sự im lặng của Nhà nước phong kiến Malaysia và hiện tại, thậm chí sau tháng 6/2003, thời điểm thoả thuận đưa vụ việc ra giải quyết tại Tòa có hiệu lực, thì Malaysia mới phản đối những việc Singapore đã làm từ những năm 1980.

        Có thể thấy rằng, nguyên tắc chiếm hữu thật sự luôn đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giải quyết tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ trải dài từ cuối thế kỉ XIX cho đến ngày nay. Nó được cơ quan tài phán quốc tế vận dụng một cách thật sự linh hoạt để đưa ra phán quyết chủ quyền với những lãnh thổ có điều kiện địa lí và tự nhiên khác nhau. Nguyên tắc chiếm hữu thật sự cũng hoạt động trong mối quan hệ tương thích với những quy định khác của luật quốc tế hiện đại để xác định và bảo vệ chủ quyền quốc gia, như: Nguyên tắc bình đẳng giữa các quốc gia, cấm sử dụng vũ lực hoặc đe doạ sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế, quy chế của các vùng biển, đảo trong luật biển1

        Tác giả cố lập luận rằng nhà nước Trung Quốc đã xác lập chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa từ hàng ngàn năm và chiếm hữu liên lục, hòa bình đối với các quần đảo này. Lịch sử và thực tiễn đã bác bỏ quan điểm của tác giả. Nhà nước phong kiến Việt Nam đã chiếm cứ các đảo mà không phải giao chiến với bất cứ quốc gia nào, cũng không phải đấu tranh để bảo vệ chủ quyền đó với bất cứ quốc gia nào, chủ quyền đó được sự thừa nhận của người phương Tây và cả người Trung Quốc, sự không quan tâm, không biết đến của Philippines, Malaysia và Brunei. Ngày nay theo luật quốc tế, sự chiếm hữu lãnh thổ phải bao gồm cả hai yếu tố vật chất và tinh thần. Yếu tố vật chất được thể hiện qua việc chiếm hữu thực sự và hành xử chủ quyền trên lãnh thổ đó. Điều này có nghĩa là quốc gia chiếm hữu phải có sự hiện diện thường trực trên lãnh thổ được chiếm hữu, và phải có những hoạt động hoặc những hành vi có tính quốc gia đối với lãnh thổ đó. Sự hành xử chủ quyền phải có tính liên tục. Còn yếu tố tinh thần có nghĩa là quốc gia phải có ý định thực sự chiếm hữu mảnh đất đó. Phải hội đủ hai yếu tố vật chất và tinh thần trên thì sự chiếm hữu mới có hiệu lực. Và sự từ bỏ lãnh thổ cũng phải hội đủ cả hai yếu tố: vật chất, tức là không hành xử chủ quyền trong một thời gian dài, và tinh thần, tức là có ý muốn từ bỏ mảnh đất đó. Phải hội đủ cả hai yếu tố: từ bỏ vật chất và từ bỏ tinh thần thì lãnh thổ đó mới được xem như bị từ bỏ, và trở lại quy chế vô chủ.

        Zhiguo Gao và Bing Bing Jia không đưa ra được bất cứ chứng cứ nào có tính thuyết phục về việc nhà nước Trung Quốc đã quản lí trên thực tế hai quần đảo này trong lịch sử mà chỉ nói về những tuyên bố của nhà nước Trung Quốc, chủ yếu là 50 năm gần đây2. Vậy mà tác giả lại kết luận: “Mấy nghìn năm nay, Trung Quốc thực thi một cách liên tục nhất quán việc lập pháp, quản lí hành chính và các hành động thể hiện chủ quyền của mình ở vùng biển có liên quan ở Nam Hải và các đảo ở trong đó” (tr. ).

        Zhiguo Gao và Bing Bing Jia cũng nhấn mạnh về “Tuyên bố về lãnh hải của Trung Quốc năm 1958”. Tác giả cố lập luận rằng Việt Nam khi đó đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với Hoàng Sa và Trường Sa. Và tác giả cho rằng “cho tới nay Chính phủ Việt Nam vẫn chưa thể đưa ra được bất cứ giải thích nào có sức thuyết phục” (tr. 97). Quả thực, luận điểm này của Zhiguo Gao và Bing Bing Jia mới là thiếu tính thuyết phục. Rất nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học Việt Nam đã phân tích về vấn đề này3. Zhiguo Gao và Bing Bing Jia đã sử dụng công thư năm 1958 để nói rằng Việt Nam chính thức công nhận chủ quyền của Trung Quốc với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, rằng khi phía Việt Nam bác bỏ điều này thì Việt Nam đã vi phạm nguyên tắc Estoppel trong luật quốc tế. Estoppel là một nguyên tắc bắt đầu từ trong nội luật nước Anh, sau này được phát triển và công nhận trong luật quốc tế liên quan đến lãnh thổ. Tuy nhiên, hiểu về Estoppel là một điều phức tạp, nó không đơn giản như các suy luận thông thường là một quốc gia cứ phát biểu một điều gì là bị ràng buộc pháp lí bởi Estoppel mà phải đáp ứng một số yếu tố nhất định. Tuyên bố về một lãnh thổ sẽ bị ràng buộc bởi Estoppel, nhưng như TS Từ Đặng Minh Thu phân tích: một tuyên bố bị ràng buộc bởi Estoppel phải đáp ứng các điều kiện:

        Lời tuyên bố hoặc hành động phải do một người hoặc cơ quan đại diện cho quốc gia phát biểu và phải được phát biểu một cách rõ ràng, công khai.

        Quốc gia nại “Estoppel” phải chứng minh rằng mình đã dựa trên những lời tuyên bố hoặc hoạt động của quốc gia kia, mà có những hoạt động nào đó, hoặc không hoạt động. Yếu tố này trong luật quốc nội Anh - Mỹ gọi là “reliance”.

        Quốc gia nại “Estoppel” cũng phải chứng minh rằng, vì dựa vào lời tuyên bố của quốc gia kia, mình đã bị thiệt hại, hoặc quốc gia kia đã hưởng lợi khi đưa ra tuyên bố đó.

        Nhiều bản án còn đòi hỏi lời tuyên bố hoặc hoạt động phải được phát biểu một cách liên tục và trường kì. Như vậy, xem xét các điều kiện trên, ta thấy công thư của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng khó mà đáp ứng được các yêu cầu để trở thành một Estoppel. Vì thế nó chỉ nên được coi như một lời hứa vô thưởng vô phạt, không thể bị ràng buộc về mặt pháp lí. Việt Nam có nhiều bằng chứng pháp lí - lịch sử để khẳng định chủ quyền với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Vì không đủ sức mạnh thuyết phục trong việc cung cấp bằng chứng chứng minh chủ quyền với Hoàng Sa, Trường Sa nên phía Trung Quốc hay dùng biện pháp ngụy biện để tuyên truyền theo cách có lợi cho họ. Nếu phía Trung Quốc chắc chắn về lập luận cùng các bằng chứng để chứng minh chủ quyền của họ trên Hoàng Sa, Trường Sa thì tại sao Trung Quốc không dám cùng Việt Nam đưa vấn đề tranh chấp chủ quyền Hoàng Sa ra một tòa án quốc tế để phân xử4.

        Công thư do cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng kí ra đời trong bối cảnh Chính phủ Mĩ gia tăng can thiệp vào Việt Nam. Từ năm 1956, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở phía Bắc tranh thủ sức mạnh của quốc tế, tập trung giải phóng miền Nam. Trung Quốc là một trong những chính quyền thuộc phe xã hội chủ nghĩa tích cực ủng hộ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

        Giai đoạn này, Trung Quốc cũng đứng trước nguy cơ chia cắt lãnh thổ. Tháng 5-1950, chiến tranh Triều Tiên bùng nổ. Hạm đội 7 của Mĩ tiến vào eo biển Đài Loan để bảo hộ hòn đảo này mặc cho Trung Quốc kịch liệt lên án. Với quyết tâm giải phóng Đài Loan, ngày 3-9-1954, Trung Quốc đã tấn công các hòn đảo như Kim Môn, Mã Tổ tạo ra cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ nhất.

        Trong thế giằng co, tháng 8-1958, Trung Quốc đột ngột tăng cường nã pháo vào đảo Kim Môn dẫn đến cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ hai. Mỹ tiếp tục điều Hạm đội 7 đến bảo vệ đường tiếp tế hậu cần từ đảo Đài Loan đến Kim Môn và Mã Tổ.

        Cũng trong năm 1958, Hội nghị Công ước Luật biển lần thứ nhất của Liên Hợp Quốc nhóm họp trong bối cảnh những tranh cãi về vùng lãnh hải giữa các quốc gia gia tăng. Phía Mỹ cho rằng lãnh hải chỉ có chiều rộng 3 hải lí còn một số quốc gia khác ủng hộ quan điểm lãnh hải có chiều rộng 12 hải lí. Ngày 29-4-1958, Liên Hợp Quốc thông qua bốn Công ước gồm: Công ước về lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải, Công ước về đại dương, Công ước về đánh bắt và bảo toàn các nguồn sinh vật trong đại dương và Công ước về thềm lục địa. Hạn chót để các quốc gia là thành viên của LHQ có thể kí nhận các công ước này là ngày 31-10-1958 .

        Vì vậy, ngày 4-9-1958, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai đã đưa ra một Tuyên bố để khẳng định chiều rộng lãnh hải của Trung Quốc là 12 hải lí và bảo vệ lãnh thổ của Trung Quốc trước nguy cơ tấn công của Mĩ.

        Cần phải thấy rằng, Thủ tướng Chu Ân Lai ngày 4-9-1958 đã ra một Tuyên bố. Đây không phải là Công hàm, vì thường Công hàm là văn bản ngoại giao hướng tới một chủ thể cụ thể, còn Tuyên bố là văn bản của Nhà nước không hướng tới một chủ thể cụ thể nào đó mà là thông báo cho thế giới biết quan điểm của một nhà nước, một chính phủ về vấn đề nào đó. Vậy văn bản của Thủ tướng Phạm Văn Đồng chỉ là lời phúc đáp ủng hộ Tuyên bố về lãnh hải 12 hải lí của Trung Quốc. Cử chỉ này của Chính phủ Việt Nam đã giúp cho Trung Quốc, ủng hộ cho Tuyên bố của Trung Quốc. Vào thời gian này quan hệ giữa Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam và một số nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu rất tốt đẹp, kết thành một phe, chống Mĩ. Đương nhiên, bất cứ Chính phủ nào tuyên bố ủng hộ lãnh hải 12 hải lí mà Trung Quốc tuyên bố, đều rất có lợi cho Trung Quốc trước các cuộc khủng hoảng ở eo biển Đài Loan khi đó. Chính phủ Trung Quốc không thể không đánh giá cao tuyên bố của Việt Nam.

        Lúc đầu Trung Quốc chưa coi Tuyên bố của Chu Ân Lai là công hàm. Hiện nay khi Trung Quốc gọi văn bản của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng là công hàm thì chính Việt Nam mới dùng thuật ngữ “công hàm”, sau này ta gọi là “công thư”.

        Vậy thuật ngữ “công hàm” xuất hiện như thế nào? Sau khi tra cứu, tìm kiếm tư liệu, chúng tôi đã tìm thấy một văn bản gọi Tuyên bố của Chu Ân Lai là “công hàm”.

        Câu chuyện bắt đầu từ phản ứng của Chính phủ Liên Xô đối với Tuyên bố của Chu Ân Lai. Liên Xô muốn ủng hộ Trung Quốc một cách mạnh mẽ nhất nên Liên Xô đã coi “Tuyên bố” của Chu Ân Lai là “Công hàm”. Trong pháp luật quốc tế, khái niệm điều ước quốc tế chỉ về các thoả thuận bằng văn bản giữa các quốc gia. Đó có thể là công ước, hiệp ước, hiệp định, nghị định thư hay công hàm trao đổi. Một nước gửi công hàm cho một nước khác, nước nhận công hàm đáp lại bằng một công hàm thì cũng được coi là hiệp định (điều ước) đã được kí kết giữa hai nước5.

        Để ủng hộ Trung Quốc trong vấn đề lãnh hải 12 hải lí mà Trung Quốc tuyên bố, Chính phủ Liên Xô đã coi Tuyên bố đó là “Công hàm” và đã uỷ quyền cho Đại sứ quán của Liên Xô tại Bắc Kinh chuyển cho Trung Quốc một công hàm đồng ý với tuyên bố được coi là công hàm của Trung Quốc. Và như vậy, coi như Chính phủ Liên Xô và Trung Quốc đã kí với nhau một Hiệp đinh, trong đó Liên Xô ủng hộ việc Trung Quốc tuyên bố lãnh hải của Trung Quốc rộng 12 hải lí. Sự kiện này diễn ra tại Bắc Kinh ngày 9-9-1958, tức 5 ngày sau khi Chu Ân Lai ra Tuyên bố.

        Điều quan trọng mà hai Bên hướng tới là lãnh hải 12 hải lí của Trung Quốc: “Chính phủ Liên Xô công nhận và sẽ hoàn toàn tôn trọng quyết định được nêu trong tuyên bố của Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về quy định chiều rộng lãnh hải của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là 12 hải lí và không có bất kì tàu quân sự và thiết bị bay nào của nước ngoài có thể xâm phạm lãnh hải và không phận trên lãnh hải nếu không được Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cho phép. Chúng tôi cũng công nhận trình tự xác lập lãnh hải của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa6. Và mục đích xác lập lãnh hải 12 hải lí mà Chính phủ Liên Xô nhấn mạnh là lãnh hải của “Đại lục, Đài Loan và các đảo nằm cạnh Đài Loan, Đảo Bành Hồ và các đảo khác thuộc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa”. Điều đó hoàn toàn xuất phát từ nhu cầu của Trung Quốc lúc bấy giờ, chống lại sự xâm nhập vùng biển tại eo biển Đài Loan. Chính phủ Liên Xô chỉ nhắc tới “đảo nằm cạnh Đài Loan” như Đảo Bành Hồ. Còn các đảo khác không nhắc tới vì nó không phải mục tiêu nhắm tới khi thiết lập lãnh hải 12 hải lí của Trung Quốc.

        Sau này, khi nói về “Công hàm” của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Trung Quốc chỉ quan tâm tới Nam Sa, Tây Sa (Trường Sa và Hoàng Sa của Việt Nam) như mục tiêu chính của Tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958, trong khi đích mà Tuyên bố của Chu Ân Lai hướng tới việc thiết lập lãnh hải 12 hải lí ven biển của Đại lục, Đài Loan, Bành Hồ.

        Khi có tranh chấp hoặc có tình huống có thể dẫn tới tranh chấp, đe doạ hòa bình và an ninh quốc tế, các bên tham gia tranh chấp phải dùng các biện pháp hòa bình để giải quyết tranh chấp. Theo quy định tại khoản 1, Điều 33 Hiến chương Liên hợp quốc, các biện pháp hòa bình là đàm phán ngoại giao, thành lập uỷ ban điều tra, trung gian hòa giải, hiệu triệu các tổ chức quốc tế và khu vực. Điều 33 Hiến chương cũng quy định về biện pháp pháp lí giải quyết tranh chấp quốc tế: tòa án hoặc trọng tài.

        Khi dùng biện pháp pháp lí, cụ thể là tòa án hay trọng tài thì cơ quan tài phán quốc tế này phải căn cứ vào nguồn của luật quốc tế để giải quyết. Nguồn của luật quốc tế được quy định tại khoản 1 Điều 38 Quy chế Tòa án công lí quốc tế. Đó là:

                ○ Các công ước quốc tế chung hoặc khu vực đã quy định về những nguyên tắc được các bên tranh chấp thừa nhận.

                ○ Các tập quán quốc tế với tính chất là những chứng cứ thực tiễn chung được thừa nhận như những quy phạm pháp luật.

                ○ Các nguyên tắc đã được hình thành từ lâu đời được các quốc gia văn minh thừa nhận.

                ○ Các nghị quyết xét xử (mang tính chất án lệ quốc tế) và các học thuyết của các chuyên gia có uy tín về luật pháp quốc tế của các nước khác nhau cũng có thể được coi là nguồn bổ trợ để xác định các quy phạm pháp luật phục vụ cho công tác xét xử của Tòa án quốc tế.

        Thế nào là các nguyên tắc chung của pháp luật được các nước văn minh thừa nhận. Do có sự hiểu khác nhau nên Tòa án Công lí quốc tế đã ra nghị quyết giải thích nguồn này. Các nguyên tắc chung của pháp luật được các nước văn minh thừa nhận gồm một số nguyên tắc, trong đó có nguyên tắc “Không ai được cho người khác hơn cái mà mình có”.

        Toàn bộ lãnh thổ miền Nam Việt Nam, bao gồm các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm dưới sự quản lí của Chính quyền Việt Nam Cộng hòa, do vậy không thể coi Công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng lại tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với Hoàng Sa và Trường Sa. Chỉ sau khi nước Việt Nam đã thống nhất về mặt Nhà nước, khi đó nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam mới có thẩm quyền với các quần đảo này. Chính vì thế mà trong số những cái gọi là chứng cứ mà Trung Quốc đưa ra, không có chứng cứ nào xuất hiện sau ngày 30-4-1975.

        Nội dung Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng được thể hiện rất thận trọng, đặc biệt là không hề có việc tuyên bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Bởi, hơn ai hết, chính Thủ tướng Phạm văn Đồng thấu hiểu quyền tuyên bố về lãnh thổ quốc gia thuộc thẩm quyền cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất là Quốc hội, và việc bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ quốc gia luôn luôn là mục tiêu hàng đầu đối với Nhà nước và nhân dân Việt Nam, nhất là trong hoàn cảnh ra đời của Công hàm như đã nêu trên.

        Công hàm 1958 có hai nội dung rất rõ ràng: Một là, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành việc Trung Quốc mở rộng lãnh hải ra 12 hải lí; Hai là, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chỉ thị cho các cơ quan nhà nước tôn trọng giới hạn lãnh hải 12 hải lí mà Trung Quốc tuyên bố.

        Trong Công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng không có từ nào, câu nào đề cập đến vấn đề lãnh thổ và chủ quyền, càng không nêu tên bất kì quần đảo nào như Trung Quốc đã nêu. Do vậy, chỉ xét về câu chữ trong một văn bản có tính chất ngoại giao cũng dễ dàng nhận thấy mọi suy diễn cho rằng Công hàm 1958 đã tuyên bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và coi đó là bằng chứng khẳng định Việt Nam đã thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo này là xuyên tạc lịch sử và hoàn toàn không có cơ sở pháp lí.

        Theo luật quốc tế, không có một văn bản pháp lí nào có thể gắn cho những lời tuyên bố đơn phương một tính chất bó buộc, ngoại trừ thuyết “estoppel”. Mục đích chính của nó ngăn chặn trường hợp một quốc gia có thể hưởng lợi vì những thái độ bất nhất của mình, và do đó, gây thiệt hại cho quốc gia khác. Vì vậy, estoppel phải hội đủ các điều kiện chính: 1) Lời tuyên bố hoặc hành động phải do một người hoặc cơ quan đại diện cho quốc gia phát biểu và phải được phát biểu một cách minh bạch; 2) Quốc gia nại “estoppel” phải chứng minh rằng mình đã dựa trên những lời tuyên bố hoặc hoạt động của quốc gia kia, mà có những hoạt động nào đó, hoặc không hoạt động; 3) Quốc gia nại “estoppel” cũng phải chứng minh rằng, vì dựa vào lời tuyên bố của quốc gia kia, mình đã bị thiệt hại, hoặc quốc gia kia đã hưởng lợi khi phát biểu lời tuyên bố đó; 4) Nhiều bản án còn đòi hỏi lời tuyên bố hoặc hoạt động phải được phát biểu một cách liên tục và lâu dài. Thí dụ: bản án “Phân định biển trong vùng Vịnh Maine”, bản án “Những hoạt động quân sự và bán quân sự tại Nicaragua”, bản án “Ngôi đền Preah Vihear”…

        Áp dụng những nguyên tắc trên của estoppel vào những lời tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chúng ta thấy thiếu điều kiện 2 và 3 đã nêu ở trên. Năm 1956, năm 1958 và năm 1965, Trung Quốc đã không có thái độ nào, hoặc thay đổi thái độ vì dựa vào lời tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trung Quốc cũng không thể chứng minh được rằng mình bị thiệt hại gì do dựa vào những lời tuyên bố đó. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng không hề được hưởng lợi gì khi có những lời tuyên bố đó.

        Xét về mặt đạo lí, Trung Quốc không thể giải thích văn bản của Việt Nam đã từng giúp Trung Quốc được hưởng lợi trong lúc Trung Quốc gặp khó khăn, lại theo cách gây tổn hại cho cho Việt Nam.

        Nếu tranh chấp Việt Nam và Trung Quốc về chủ quyền đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, chắc chắn Tòa án quốc tế sẽ coi tuyên bố đơn phương của Việt Nam ngày 14-9-1958 không có giá trị pháp lí, không thể được coi là căn cứ để Tòa án giải quyết tranh chấp.

        Chính vì vậy, trong khi Trung Quốc cố giải thích giá trị pháp lí của văn bản do Thủ tướng Phạm Văn Đồng, họ lại môt mực khước từ việc đưa tranh chấp ra giải quyết tại Tòa án quốc tế.

        Zhiguo Gao và Bing Bing Jia còn nhận định rất sai ở chỗ, theo tác giả “sau khi Việt Nam thống nhất năm 1975, Việt Nam bắt đầu đưa ra yêu sách chủ quyền đối với Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa)” (tr. 98). Tác giả cố tình không biết rằng từ rất xa xưa trong lịch sử các nhà nước phong kiến Việt Nam đã thực thi chủ quyền của mình đối với các quần đảo Hoàng sa và Trường Sa trong khi Trung Quốc chưa hề có một động thái nào đối với các quần đảo này trên danh nghĩa nhà nước. Hải Ngoại Kí Sự của Thích Đại Sán (người Trung Quốc) năm 1696. Trong quyển 3 của Hải Ngoại Kí Sự đã nói đến Vạn Lí Trường Sa khẳng định Chúa Nguyễn đã sai thuyền ra khai thác các sản vật từ các tàu đắm trên quần đảo Vạn Lý Trường Sa. Các bản đồ cổ Trung Quốc do chính người Trung Quốc vẽ từ năm 1909 trở về trước đều minh chứng Tây Sa và Nam Sa không thuộc về Trung Quốc. Khảo sát tất cả bản đồ cổ của Trung Quốc từ năm 1909 trở về trước, người ta thấy tất cả bản đồ cổ nước Trung Quốc do người Trung Quốc vẽ không có bản đồ nào có ghi các quần đảo Tây Sa, Nam Sa. Tất cả bản đồ cổ ấy đều xác định đảo Hải Nam là cực nam của biên giới phía nam của Trung Quốc. Và ngay trong thế kỉ XX, trước năm 1975, các nhà nước ở Việt Nam đều thực thi chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa. Việc Trung Quốc dùng vũ lực để xâm lược Hoàng Sa và một số đảo ở Trường Sa đều vấp phải sự kháng cự của Việt Nam. Sau khi Trung Quốc dùng vũ lực chiếm đóng Hoàng Sa tháng 1-1974, nhiều đoàn khảo cổ Trung Quốc đến các đảo thuộc quần đảo này và gọi là “phát hiện” nhiều cổ vật như tiền cổ, đồ sứ, đồ đá chạm trổ trên các hòn đảo này, song đều không có giá trị gì để minh xác chủ quyền Trung Quốc, trái lại họ lại phát hiện ở mặt bắc ngôi miếu “Hoàng Sa Tự” ở đảo Vĩnh Hưng, tức đảo Phú Lâm (Ile Boisée), lại là bằng chứng hiển nhiên vết tích của việc xác lập chủ quyền của Việt Nam. Tác giả nói nhiều về cái gọi là “chủ quyền lịch sử của Trung Quốc” nhưng xuất phát từ những chứng cứ rất mơ hồ. Trong khi đó nếu nói về “chủ quyền lịch sử” thì chính Việt Nam mới có cơ sở để chứng minh Hoàng Sa, Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.

        Trong phần V của cuốn sách Zhiguo Gao và Bing Bing Jia đưa ra kiến nghị chính sách và triển vọng.

        Zhiguo Gao và Bing Bing Jia nói về cam kết giữa Trung Quốc và các nước ASEAN thực hiện thoả thuận về DOC năm 20027. Tuy nhiên, một mặt, tác giả đề nghị các bên tham gia tranh chấp cần tuân thủ UNCLOS 1982 và Khoản 1 Điều 33 Hiến chương Liên hợp quốc 8, mặt khác, Trung Quốc lại không chấp nhận giải quyết về phân định biển, tranh chấp lãnh thổ bằng tòa án và trọng tài quốc tế. Đây là mâu thuẫn rất lớn trong chính sách của Trung Quốc. Vậy Zhiguo Gao và Bing Bing Jia kiến nghị gì cũng chẳng đi đến đâu cả. Tác giả cố tình khẳng định việc Trung Quốc “luôn được hưởng và thực thi một số quyền lợi ở Nam Hải”. Đó là khẳng định hết sức sai lầm, không hề có cơ sở pháp lí và thực tiễn. Nếu tác giả nói rằng “biết bao thế hệ người dân Trung Quốc sống dựa vào Nam Hải” nên Trung Quốc phải có toàn quyền khai thác Nam Hải (Biển Đông) vậy từ xa xưa, Biển Đông quan trọng đối với người Việt Nam như thế nào? Các nhà nước Việt Nam đã thực thi chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa có hiệu quả, liên tục và hòa bình, trong khi đó Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa và các đảo ở Trường Sa bằng vũ lực. Tác giả viện dẫn “vụ trọng tài Eritrea - Yemen” và nói rằng Trọng tài đã phán quyết theo lập trường của Trung Quốc ở Nam Hải (Biển Đông). Nếu vậy, tại sao Trung Quốc lại sợ, lại né tránh việc đưa tranh chấp ở Biển Đông ra giải quyết ở trọng tài hay Tòa án công lí quốc tế Liên Hợp Quốc.

        Zhiguo Gao và Bing Bing Jia cũng ủng hộ quan điểm “khai thác chung”. Tuy nhiên, tại sao lại khai thác chung khi tuyên bố “chủ quyền thuộc về ta (Trung Quốc), gác tranh chấp để khai thác chung”? Không nước nào hành xử theo kiểu, cái gì mình chiếm thì là của riêng mình, những cái thuộc về người khác, hoặc người khác đang chiếm tuyên bố thuộc về mình và tiến hành khai thác chung! Chúng tôi chưa thấy khi đặt vấn đề “khai thác chung” Zhiguo Gao và Bing Bing Jia muốn nói tới khai thác chung chỗ nào? Ở Hoàng Sa mà Trung Quốc đang chiếm giữ trái phép của Việt Nam hay ở những nơi mà Việt Nam đang thực thi chủ quyền thì Trung Quốc muốn vào để “khai thác chung” với dụng ý “chủ quyền vẫn thuộc về Trung Quốc”?

        Tóm lại Zhiguo Gao và Bing Bing Jia viết cuốn sách với tiêu đề “Bàn về lịch sử, địa vị và tác dụng của đường chín đoạn” nhưng thực ra nội dung cuốn sách rất lúng túng khi bàn về “đường chín đoạn”, không khẳng định toạ độ, quy chế pháp lí của đường chín đoạn” mà dành phần lớn nội dung cuốn sách để nói về chủ quyền của Trung Quốc đối với toàn bộ các đảo, quần đảo trong phạm vi đường chín đoạn mà Trung Quốc vẽ trên Biển Đông. Mà mục tiêu lập luận cho chủ quyền của Trung Quốc đối với Hoàng Sa và Trường Sa cũng không đạt được. Trong nội dung của cuốn sách tác giả lập luận rất yếu về cơ sở của đường chín đoạn, nhưng trong kết luận lại nói “đường chín đoạn đại diện cho quyền sở hữu tất cả các đảo ở Nam Hải (Biển Đông)” (tr. 116) theo quy định của UNCLOS 1982. Ngay sau đó tác giả lại thừa nhận UNCLOS 1982 không có khái niệm vùng nước lịch sử như đường chín đoạn và cho rằng “Đối với Nam Hải (Biển Đông) danh nghĩa lịch sử và quyền lịch sử của Trung Quốc hình thành sớm hơn nhiều năm so với UNCLOS 1982 và tiếp tục phát huy tác dụng của nó”. Lập luận này, có lẽ là mạnh mẽ nhất trong cuốn sách của Zhiguo Gao và Bing Bing Jia. Nói cách khác, tác giả cho rằng cái gọi là “đường chín đoạn” xuất hiện sớm hơn so với UNCLOS 1982 nên không áp dụng các quy định của UNCLOS 1982 (tr. 116). Nói như Zhiguo Gao và Bing Bing Jia thì có thể hiểu biển quốc tế xuất hiện từ khi xuất hiện trái đất mà mãi đến năm 1982 UNCLOS mới xuất hiện nên UNCLOS không thể được dùng để điều chỉnh các quan hệ liên quan đến biển quốc tế. Ngoài các học giả Trung Quốc ra không hiểu có luật gia nào nói như vậy? Chúng tôi chưa thấy tác giả nào không phải là học giả Trung Quốc lại ủng hộ đường chín đoạn, chỉ thấy rất nhiều học giả Trung Quốc chế nhạo, phê phán, bác bỏ cái gọi là đường chín đoạn mà thôi.

 

 

CHÚ THÍCH

1 Nội dung tổng hợp các vụ án này xin xem: ThS. Nguyễn Thị Thanh, Xác lập chủ quyền của Nhà nước phong kiến Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa dưới góc nhìn một số phán quyết của Trọng tài và Tòa án Công lí quốc tế. http://www.moj.gov.vn/tcdcpl/tintuc/Lists/SuKienNoiBat/View_detail.aspx?ItemID=440

2 Có quá nhiều chứng cứ nói về việc Trung Quốc mới đây mới đưa ra yêu sách chủ quyền. Không hiểu Zhiguo Gao và Bing Bing Jia suy nghĩ gì về tấm bản đồ cổ về Trung Quốc mà Thủ tướng Đức tặng ông Tập Cận Bình nhân dịp ông thăm châu Âu đang trở thành chủ đề tranh luận khi nó mâu thuẫn với cách người Trung Quốc nhìn nhận về những ranh giới lịch sử. Trong bản đồ năm 1735 này lãnh thổ cực nam của Trung Quốc vẫn là đảo Hải Nam. Và tất nhiên, quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa của Việt Nam cũng không hề có trong bản đồ này (http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/168771/vi-sao-duc-tang-tq-ban-do-khong-co-hoang-sa-.html)

3 Zhiguo Gao và Bing Bing Jia hãy đọc: Nhóm PV Biển Đông, Đại đoàn kết, Công hàm 1958 với chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam (http://daidoanket.vn/index.aspx?Menu=1501&Chitiet=34740&Style=1); Công hàm 1958 với chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam - Nội dung Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng được thể hiện rất thận trọng, đặc biệt là không hề có việc tuyên bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-07-20-cong-ham-1958-voi-chu-quyen-hoang-sa-va-truong-sa-cua-viet-nam); Thành Nam - Duy Trân - Về cái gọi là ông Phạm Văn Đồng đã chối bỏ chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (http://www.biendong.net/binh-luan/236-v-cai-gi-la-ong-phm-vn-ng-a-chi-b-ch-quyn-i-vi-hai-qun-o-hoang-sa-va-trng-sa.html); Quan điểm của các nhà nghiên cứu Trần Công Trục, Đinh Kim Phúc, Phạm Hoàng Quân: Công hàm 1958 và vấn đề chủ quyền ở Hoàng Sa-Trường Sa (Báo Pháp luật TP Hồ Chí Minh: http://plo.vn/thoi-su/cong-ham-1958-va-van-de-chu-quyen-o-hoang-satruong-sa-468220.html: Hoàng Việt - Sự thật Công thư 1958 của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng (http://tuoitre.vn/tin/chinh-tri-xa-hoi/20140524/su-that-cong-thu-1958-cua-co-thu-tuong-pham-van-dong/609181.html); Đoàn Khánh Hùng - Bàn về đường lưỡi bò (đường chữ U) phi lí của Trung Quốc- Nghiên cứu Trung Quốc số 11 (123) - 2011;

4 Hoàng Việt - Công thư 1958 không có giá trị pháp lí- http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/cong-thu-1958-khong-co-gia-tri-phap-ly-2995323.html.

5 Có thể xem tại: http://www.chinaruslaw.com/RU/CnRuTreaty/da2ga3dk/201018222011_943567.htm

6 Nguyên văn tiếng Nga: “Правительство СССР принимает к сведению, что решение Правительства КНР относится ко всем территориям Китайской Народной Республики, включая материковый Китай, Тайвань и прилегающие к нему острова, острова Пэнхуледао, а также другие острова, принадлежащие Китайской Народной Республике. Посольство имеет честь информировать Министерство, что соответствующим советским организациям даны указания о точном соблюдении установленных Правительством Китайской Народной Республики границы 12-мильных территориальных вод КНР”. http://www.chinaruslaw.com/RU/CnRuTreaty/da2ga3dk/201018222011_943567.htm

7 Theo DOC, các bên tranh chấp khẳng định cam kết giải quyết tranh chấp trên cơ sở Hiến chương Liên hợp quốc, theo quy định của UNCLOS 1982 và các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế.

8 Khoản 1 Điều 33 Hiến chương Liên Hợp Quốc quy định nghĩa vụ các bên tham gia tranh chấp phải giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hoà bình.

 

ABSTRACT

The author presents some opinions against the content of the book named “The Nine-Dash Line in the South China Sea: History, Status and Implication”, which was newly published, by Chinese co-authors Zhiguo Gao and Bing Bing Jia.