Tự do hàng hải - Lại Tố Quyên

14/08/2014

TỰ DO HÀNG HẢI - tự do qua lại trên biển. Mỗi quốc gia, không phụ thuộc vào việc có biển hay không có biển, đều có quyền để tàu mang quốc kỳ nước mình qua lại tự do trên biển, có quyền để tàu mang quốc kỳ của nước mình đi lại tự do trên biển mà không bị đe dọa bởi tàu thuyền của các quốc gia khác. Hàng hải là một lĩnh vực rất rộng, bao gồm ngành đóng tàu, ngành vận tải biển, khai thác cảng cùng với các hoạt động phụ trợ như đại lý môi giới, hoa tiêu, bảo đảm hàng hải... Ngành hàng hải có vai trò quan trọng đối với các quốc gia có biển, nhất là đối với một số ngành công nghiệp khác như vận tải, công nghiệp quốc phòng và công nghiệp dầu mỏ... Ở các nước tư bản giàu có có biển, ngành hàng hải đóng góp một tỷ trọng rất lớn vào tổng sản phẩm quốc nội GDP. Việt Nam là một nước có bờ biển hàng ngàn km, gần như một bán đảo, liền kề với tuyến hàng hải quốc tế quan trọng bậc nhất của thế giới thì ngành công nghiệp hàng hải có vai trò rất lớn.

Các tuyến hàng hải quan trọng đi qua biển Đông (Nguồn: internet)

 

Điều 87 Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982 (UNCLOS) quy đinh về TDHH như sau:

1. Biển cả (cg. Biển quốc tế, công hải) được để ngỏ cho tất cả các quốc gia, dù có biển hay không có biển. Quyền tự do trên biển cả được thực hiện trong những điều kiện do các quy định của Công ước hay và những quy tắc khác của pháp luật quốc tế trù định. Đối với các quốc gia dù có biển hay không có biển, quyền tự do này đặc biệt bao gồm: Tự do hàng hải; Tự do hàng không;  Tự do đặt các dây cáp hoặc ống dẫn ngầm với điều kiện tuân thủ Phần VI; Tự do xây dựng các đảo nhân tạo hoặc các thiết bị khác được pháp luật quốc tế cho phép, với điều kiện tuân thủ phần VI; Tự do đánh bắt hải sản trong các điều đã được nêu ở Mục 2; Tự do nghiên cứu khoa học với các điều kiện tuân thủ các Phần VI và VIII.

2. Mỗi quốc gia khi thực hiện các quyền tự do này phải tính đến lợi ích của việc thực hiện tự do trên biển cả của các quốc gia khác, cũng như đến các quyền được Công ước thừa nhận liên quân đến các hoạt động trong Vùng.

Khoản 4 Điều 16 Luật Biển Việt Nam năm 2013, được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 21-6-2012 cũng nêu rõ: “Nhà nước tôn trọng quyền tự do hàng hải, hàng không; quyền đặt dây cáp, ống dẫn ngầm và hoạt động sử dụng biển hợp pháp của các quốc gia khác trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam theo quy định của Luật này và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, không làm phương hại đến quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia và lợi ích quốc gia trên biển của Việt Nam”.

Trước khi UNCLOS đựơc ký kết, trên thế giới đã có những học thuyết về biển. Từ thế kỷ XVII, khái niệm "tự do hàng hải" đã xuất hiện trong các thỏa thuận về biển. Theo quy tắc "tầm đại bác" do quan tư pháp Hà Lan khi đó là Cornelius van Bynkershoek soạn thảo, mỗi quốc gia chỉ được hưởng vùng đặc quyền từ bờ biển ra xa 3 hải lý, tức tương đương tầm bắn của đại bác thời đó. Đến năm 1967, sau khi một số công ước về Luật Biển năm 1958 đã có hiệu lực, còn đến 25 quốc gia vẫn theo quy tắc "tầm đại bác", trong khi có đến 66 quốc gia áp dụng quy tắc 12 hải lý và 8 nước đã triển khai vùng lãnh hải 200 hải lý. Cho đến tháng 5/2008, còn 2 quốc gia là Jordan và Palau vẫn áp dụng quy tắc 3 hải lý. Nội dung chính của UNCLOS năm 1982 là những quy định liên quan đến tự do hàng hải quốc tế, các quy tắc ứng xử đối với vùng biển bên ngoài vùng đặc quyền kinh tế (EEZ), quy định về biển đảo, việc sử dụng vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của mỗi quốc gia và vấn đề khai thác các nguồn tài nguyên biển, trong đó quan trọng nhất là khai thác khoáng sản dưới đáy đại dương và đánh bắt hải sản trong vùng biển quốc tế.

Quốc gia ven biển có quyền quy định các tuyến đường qua lại và phân chia các luồng giao thông dành cho tàu thuyền nước ngoài khi đi qua lãnh hải của mình. Các tuyến đường này phải phù hợp với các quy định của Công ước Liên hợp quốc về luật biển năm 1982 và các luật quốc tế có liên quan khác. Trong trường hợp có sự vi phạm, đe dọa hòa bình, an ninh, trật tự của mình, quốc gia ven biển có quyền sử dụng các biện pháp thích hợp để bảo vệ chủ quyền, kể cả đình chỉ không cho qua lại không gây hại. Quốc gia ven biển cũng có thể cho phép tàu thuyền nước ngoài có được khả năng tạm dừng, tạm trú khi thực hiện quyền qua lại không gây hại trong các trường hợp bất khả kháng (force majeure) như: mưa bão, thiên tai, chiến tranh v.v hay các sự cố hàng hải có thể gây nguy hiểm đến sự an toàn hàng hải hay tính mạng hành khách. Tàu chiến nước ngoài cũng có quyền qua lại không gây hại trong lãnh hải của nước ven biển. Tuy nhiên, mọi vũ khí trên tàu phải được che phủ bạt, tức không ở trong trạng thái sãn sàng chiến đấu. Tàu ngầm nước ngoài qua lại lãnh hải phải ở trạng thái nổi. Thôn thường, tàu ngầm, tàu chiến có cùng cờ quốc tịch qua lại lãnh hải của nước khác không đi theo đoàn, quá 2 chiếc.

Lợi ích của tự do hàng hải là rất lớn, đó là lợi ích then chốt và cũng là lợi ích kinh tế và an ninh quan trọng nhất đối với nhiều nước. Trong khi đó, Biển Đông là tuyến đường thương mại quan trọng nhất và Hoa Kỳ coi tuyến đường này là vùng nước quốc tế cho phép tàu thuyền quân sự và thương mại tự do qua lại. Một phân tích của Hoa Kỳ có nêu: “Mối đe dọa đối với tự do hàng hải qua biển Đông sẽ phá vỡ nghiêm trọng đến kinh tế khu vực. Sự tăng trưởng của kinh tế và an ninh của Hoa Kỳ phụ thuộc vào việc duy trì tự do hàng hải với cả tàu buôn và tàu quân sự”. Hoa Kỳ luôn ủng hộ tự do hàng hải trên thế giới, bao gồm cả biển Đông, và có lợi ích tại các tuyến đường biển trong khu vực và do đó quan tâm đến việc giải quyết hòa bình tranh chấp tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, và các vùng khác.

UNCLOS 1982 cũng đề cập: Trong Vùng đặc quyền về kinh tế, tất cả các quốc gia, dù có biển hay không có biển được hưởng: quyền tự do hàng hải; quyền tự do hàng không; quyền tự do lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm; quyền tự do sử dụng biển vào các mục đích khác hợp pháp về mặt quốc tế phù hợp quy định của Công ước (do Vùng tiếp giáp lãnh hải đồng thời nằm trong phạm vi Vùng đặc quyền về kinh tế, nên các quyền này của các quốc gia cũng được áp dụng cho Vùng tiếp giáp lãnh hải).

Tự do hàng hải đang trở thành vấn đề trung tâm giữa Mỹ, Nhật Bản với Trung Quốc trong bối cảnh Bắc Kinh ngày càng gia tăng hoạt động. Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe đã quyết định nhấn mạnh vấn đề này tại hội nghị thượng đỉnh Đông Á ngày 9/10/2013 ở Brunei với các thành viên ASEAN. Ông Shinzo Abe vẫn thúc các quan chức Bộ Ngoại giao Nhật Bản phải vận động các đối tác ASEAN đưa vấn đề này vào tuyên bố chung ASEAN - Nhật Bản:"Sử dụng bất cứ phương tiện cần thiết nào để đảm bảo rằng "tự do hàng hải" xuất hiện trong văn bản (tuyên bố chung ASEAN-Nhật Bản)". Kể từ tháng 12 năm 2013 khi nhậm chức Thủ tướng, ông Shinzo Abe đã nhấn mạnh tầm quan trọng của tự do hàng hải trong các cuộc gặp gỡ với các nhà lãnh đạo nước ngoài. Ý định rõ ràng của Thủ tướng Nhật Bản là gửi thông điệp mạnh mẽ đến Bắc Kinh trong bối cảnh Trung Quốc tiếp tục đe dọa các nước láng giềng bằng cách phái đội tàu đánh cá ra Hoa Đông và xuống Biển Đông (đánh bắt trái phép).

Ngày 4-11-2002, tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 8 ở Phnom Penh (Campuchia), Trung Quốc và 10 nước ASEAN đã ký cam kết DOC. Các cam kết mà ASEAN và Trung Quốc đã nhất trí trong DOC chia thành hai nhóm gồm: Cam kết về các nguyên tắc ràng buộc hành vi ứng xử của các bên ở Biển Đông và các cam kết về việc cùng tiến hành một số biện pháp xây dựng lòng tin cũng như hoạt động hợp tác trong một số lĩnh vực ít nhạy cảm. Theo đó các bên khẳng định cam kết đối với mục tiêu và các nguyên tắc của Hiến chương LHQ, UNCLOS 1982, Hiệp ước thân thiện và hợp tác ở Đông Nam Á năm 1976, 5 nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình mà Trung Quốc đã ký với vùng Carmia của Ấn Độ năm 1962 và các nguyên tắc phổ cập khác của luật pháp quốc tế. Các bên khẳng định tôn trọng tự do hàng hải và tự do bay ở Biển Đông như đã được quy định bởi các nguyên tắc phổ cập của pháp luật quốc tế, trong đó có UNCLOS 1982. Các bên cũng cam kết kiềm chế không tiến hành các hoạt động có thể làm phức tạp thêm hoặc gia tăng tranh chấp và ảnh hưởng đến hòa bình và ổn định của khu vực. ASEAN và Trung Quốc cũng đồng ý căn cứ vào các nguyên tắc Hiến chương LHQ, UNCLOS 1982, Hiệp ước thân thiện và hợp tác ở Đông Nam Á và các nguyên tắc phổ cập khác của luật pháp quốc tế, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau để tìm kiếm các phương cách xây dựng lòng tin.

Biển Đông có vị trí chiến lược quan trọng, với nhiều tuyến vận tải biển nối liền Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, châu Á với châu Âu, châu Úc với Trung Đông. Khu vực biển nằm gần quần đảo Hoàng Sa cũng là tuyến đường vận tải dầu quan trọng tới Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc. Sự kiện Trung Quốc xâm phạm trắng trợn chủ quyền Việt Nam khi hạ đặt giàn khoan Hải Dương - 981 trên vùng đặc quyền kinh tế, điều tàu quân sự bảo vệ, tấn công tàu Cảnh sát biển Việt Nam và các tàu cá của Việt Nam là hành động gây hấn nghiêm trọng, đồng thời đã vi phạm vào quyền tự do hàng hải, tự do đánh bắt của các tàu cá Việt Nam trên vùng biển chủ quyền của Việt Nam. Hành động của Trung Quốc không chỉ xâm phạm chủ quyền của Việt Nam mà còn là sự cản trở hoạt động hàng hải quốc tế trên toàn bộ hành lang hàng hải ở Biển Đông. Vì đi theo giàn khoan HD - 981 là 80 tàu các loại cùng máy bay, thiết lập một vùng cấm đi lại trong bán kính ba hải lý sẽ cản trở rất lớn đối với an ninh hàng hải, tự do hàng hải trên Biển Đông. Sự kiện này đang làm dấy lên mối quan ngại đối với an ninh khu vực.

Lại Tố Quyên

Tài liệu tham khảo:

  1. Luật biển Việt Nam
  2. Luật biển quốc tế 1982
  3. Từ điển bách khoa thư
  4. Từ điển Wikipedia
  5. UNCLOS và an ninh hàng hải ở Biển Đông

http://antg.cand.com.vn/vi-VN/sukien/2012/6/78234.cand

  1. http://giaoduc.net.vn/Quoc-te/Thu-tuong-Nhat-Bang-moi-gia-van-dong-ASEAN-hop-tac-tu-do-hang-hai-post136257.gd
  2. UNCLOS 1982 và DOC 2002 - cơ sở pháp lý bảo đảm hòa bình trên Biển Đông

http://hanoimoi.com.vn/Tin-tuc/Xa-hoi/682404/unclos-1982-va-doc-2002---co-so-phap-ly-bao-dam-hoa-binh-tren-bien-dong

  1. http://biendong.net/su-kien/471-vit-nam-anh-khng-nh-li-ich-t-do-hang-hi-bin-ong.html
  2. Ralph A. Cossa, “Security Implications of Conflict in the South China Sea: Exploring Potential Triggers of Conflict”, A Pacific Forum CSIS, tháng 3/1998
  3.  http://vtv.vn/Thoi-su-trong-nuoc/Trung-Quoc-de-doa-an-ninh-hang-hai-quoc-te/115377.vtv#sthash.sBYvFVHz.dpuf