CÁC CHỮ VIẾT TẮT "COC", "DOC" HAY XUẤT HIỆN TRÊN CÁC BÀI VIẾT VỀ BIỂN ĐÔNG

07/07/2014

 

        1. COC, DOC nghĩa là gì?

 

       Đọc các tin, bài viết về việc Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan HD 981 trên vùng đặc quyền kinh tế và thêm lục địa của Việt Nam ở Biển Đông, chúng ta thường thấy xuất hiện các chữ viết tắt COC, DOC. Vậy COC,  DOC là gì?

Xin nói ngay, COC là chữ viết tắt bằng tiếng Anh - The Code of Conduct for the South China Sea, tiếng Việt là Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông. Còn DOC viết tắt bằng tiếng Anh: Declaration on the Conduct of Parties in the South China Sea, tiếng Việt là Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông. Các văn bản này đã và sẽ được ký kết giữa các nước ASEAN và Trung Quốc với mục đích gìn giữ hòa bình, an ninh ở Biển Đông.

Các nước ASEAN và Trung Quốc từ cuối những năm 90 của thế kỷ XX đã cùng nhau hướng tới ký kết, thông qua COC. Tuy nhiên, việc xây dựng COC là quá trình phức tạp, cho đến nay "vẫn chưa đâu vào đâu". Do vậy, các bên đã ký kết DOC, như một bước quá độ để tiến tới COC.

 

       2. Quá trình xây dựng DOC để tiến tới COC

       Tranh chấp trên Biển Đông diễn ra đã lâu, chỉ bùng nổ dữ dội khi Trung Quốc hạ đặt trái phép dàn khoan HD 981 vào vùng biển của Việt Nam. Đó là việc Trung Quốc xâm lược, chiếm đóng trái phép quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam từ 1956, 1974 và đảo Gạc Ma (thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam) từ năm 1988. Tranh chấp về quần đảo Trường Sa của Việt Nam là tranh chấp giữa Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan, Philippine, Brunây, Malaysia (hay còn gọi là tranh chấp 5 nước, 6 bên).

Để giảm bớt căng thẳng trên Biển Đông, năm 1996 ASEAN chính thức thống nhất đề xuất xây dựng văn bản COC cho khu vực. Lúc đầu Trung Quốc không chấp nhận đàm phán xây dựng một COC với l‎ý do ASEAN và Trung Quốc đã có Tuyên bố hợp tác hướng tới thế kỷ 21 ký tháng 12/1997 tại Kuala Lumpur.  Sau khi tuyên bố đường cơ sở quần đảo Hoàng Sa năm 1996, vi phạm chủ quyền Việt Nam, Trung Quốc thông qua Luật đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 1998, Lệnh cấm đánh bắt cá từ năm 1999 nhằm củng cố sự hiện diện của mình ở Biển Đông. Hành động của Trung Quốc làm các nước khác lo ngại và khởi đầu một cuộc chạy đua vũ trang và chiếm đóng mới ở Biển Đông. Đài Loan thông qua Luật lãnh hải và vùng tiếp, giáp năm 1998, Luật đặc quyền kinh tế và thềm lục địa năm 1999. Malaysia chiếm thêm Én Đất và Bãi Thám hiểm tháng 6 năm 1999. Bối cảnh căng thẳng trên Biển Đông lúc đó buộc các nhà ngoại giao khu vực phải sớm có một giải pháp. Các bộ quy tắc ứng xử Philippin – Trung Quốc và Philippin – Việt Nam trong năm 1995 là cơ sở để ASEAN đề nghị Trung Quốc tiến hành đàm phán về một Bộ quy tắc ứng xử chung ASEAN – Trung Quốc. Thế nhưng các cuộc đàm phán giữa các bên chỉ đi đến một kết quả nửa đường – Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) 2002 sau hơn 2 năm đàm phán và 10 năm nung nấu ý tưởng.

       Tháng 12 năm 1998 tại Hội nghị cấp cao ASEAN tại Hà Nội, lãnh đạo các nước ASEAN đã nhất trí xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (The Code of Conduct for the South China Sea - COC). Trên cơ sở dự thảo của Philippin và Việt Nam, trong năm 1999, các nước ASEAN đã nỗ lực thảo luận về COC và đến cuối năm 1999, các nước ASEAN đã thống nhất được dự thảo chung của COC để đàm phán với Trung Quốc. Từ đầu năm 2000, ASEAN và Trung Quốc bắt đẩu tiến hành thương lượng về dự thảo COC. Tuy nhiên, do Trung Quốc không muốn có các nội dung mang tính ràng buộc pháp lý cao trong COC có thể ảnh hưởng đến việc thực hiện mục tiêu độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc nên đã tìm mọi cách ngăn cản việc hình thành Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông làm cho đàm phán bế tắc.

       Trước tình hình đó, các nước ASEAN đã đồng ý với Trung Quốc trước mắt thông qua Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (Declaration on the Conduct of Parties in the South China Sea- DOC) như là một văn kiện chính trị giữa ASEAN và Trung Quốc, nhằm tạo cơ sở cho việc duy trì hòa bình ổn định ở Biển Đông. Ngày 04 tháng 11 năm 2002, tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN tại Phnompênh (Cămpuchia), các nước ASEAN và Trung Quốc đã cùng nhau ký Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC). Những quốc gia tham gia ký kết tuyên bố bao gồm Brunei, Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanma, Philippines,Singapore, Thái Lan, Việt Nam và Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa.

       Phần mở đầu của DOC nêu rõ:

       "Chính phủ các quốc gia thành viên ASEAN và chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa:

       Tái khẳng định quyết tâm củng cố và phát triển tình hữu nghị và sự hợp tác đang tồn tại giữa các chính phủ và nhân dân các nước với quan điểm thúc đẩy mối quan hệ đối tác láng giềng tốt và tin cậy lẫn nhau hướng tới thế kỷ 21.

      Nhận thức rõ nhu cầu thúc đẩy một môi trường hòa bình, thân thiện và hài hòa trong vùng biển Nam Trung Hoa giữa ASEAN và Trung Quốc nhằm nâng cao hòa bình, ổn định, tăng trưởng kinh tế và thịnh vượng trong khu vực.

      Cam kết nâng cao những nguyên tắc và mục tiêu của tuyên bố chung của Hội nghị những người đứng đầu nhà nước/chính phủ các nước thành viên ASEAN và Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1997.

      Mong muốn nâng cao những điều kiện thuận lợi cho một giải pháp hòa bình và bền vững cho những tranh chấp và khác biệt giữa các quốc gia liên quan".

      Nội dung của DOC gồm 10 điều:

      Điều 1: Các bên tái khẳng định cam kết của mình đối với các mục tiêu và các nguyên tắc của Hiến chương Liên Hiệp Quốc, Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển năm 1982 (UNCLOS), Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác khu vực Đông Nam Á (TAC), Năm nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình (của Trung Quốc) và những nguyên tắc được thừa nhận phổ biến khác của luật pháp quốc tế được coi là quy tắc căn bản điều chỉnh mối quan hệ giữa nhà nước với nhà nước.

      Điều 2: Các bên cam kết tìm kiếm những cách thức xây dựng lòng tin và sự tín nhiệm lẫn nhau hài hòa với những nguyên tắc nêu trên và trên căn bản bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau.

      Điều 3: Các bên tái khẳng định sự tôn trọng và cam kết của mình đối với quyền tự do hoạt động hàng hải và bay trên vùng trời Biển Nam Trung Hoa như đã được minh thị bởi các nguyên tắc được thừa nhận phổ biến trong luật pháp quốc tế, kể cả Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982.

      Điều 4: Các bên liên quan chịu trách nhiệm giải quyết các tranh chấp về lãnh thổ và về quyền thực thi luật pháp bằng các phương tiện hòa bình mà không viện đến sự đe dọa hoặc sử dụng vũ lực, thông qua các cuộc tham vấn thân thiện và những cuộc đàm phán bởi các quốc gia có chủ quyền có liên quan trực tiếp, phù hợp với những nguyên tắc được thừa nhận phổ quát của luật pháp quốc tế, kể cả Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982.

      Điều 5: Các bên chịu trách nhiệm thực hiện sự tự chế trong việc thi hành các hoạt động có thể gây phức tạp hoặc leo thang tranh chấp, ảnh hưởng tới hòa bình và sự ổn định, kiềm chế không tiến hành đưa người đến sinh sống trên những hòn đảo hiện không có người sinh sống, trên các rặng đá ngầm, bãi cát ngầm, đảo nhỏ và những yếu tố khác và phải được xử lý những khác biệt của mình bằng phương pháp có tính xây dựng.

      Trong khi chờ đợi sự dàn xếp hòa bình cho các tranh chấp về lãnh thổ và quyền thực thi pháp luật, các bên liên quan tiến hành tăng cường những nỗ lực nhằm tìm kiếm các phương cách xây dựng lòng tin và sự tín nhiệm lẫn nhau trong tinh thần hợp tác và hiểu biết, bao gồm:

      Tổ chức các cuộc đối thoại và trao đổi quan điểm một cách thích đáng giữa các quan chức phụ trách quân sự và quốc phòng.

      Bảo đảm đối xử công bằng và nhân đạo đối với tất cả mọi người đang gặp hiểm nguy hoặc tai họa.

      Thông báo trên cơ sở tự nguyện cho các bên liên quan khác về mọi cuộc tập luyện quân sự liên kết/hỗn hợp sắp diễn ra.

      Trao đổi trên cơ sở tự nguyện những thông tin liên quan.

      Điều 6: Trong khi chờ đợi một sự dàn xếp tòan diện và bền vững những tranh chấp, các bên liên quan có thể tìm kiếm hoặc tiến hành các hoạt động hợp tác. Những hoạt động này có thể bao gồm các điều sau đây:

          Bảo vệ môi trường biển

          Nghiên cứu khoa học biển

          An toàn hàng hải và thông tin trên biển

          Hoạt động tìm kiếm cứu hộ

      Đấu tranh chống tội phạm xuyên quốc gia, kể cả nhưng không hạn chế trong hoạt động buôn lậu các loại thuốc cấm, hải tặc và cướp có vũ trang trên biển, hoạt động buôn bán trái phép vũ khí

      Thể thức, quy mô và địa điểm, đặc biệt là sự hợp tác song phương và đa phương, cần phải được thỏa thuận bởi các bên có liên quan trước khi triển khai thực hiện trong thực tế

      Điều 7: Các bên liên quan sẵn sàng tiếp tục các cuộc đối thoại và tham vấn về những vấn đề liên quan, thông qua các thể thức được các bên đồng ý, kể cả các cuộc tham vấn thường xuyên theo quy định của Tuyên bố này, vì mục tiêu khuyến khích sự minh bạch và láng giềng tốt, thiếp lập sự hợp tác và hiểu biết lẫn nhau một cách hài hòa, và tạo điều kiện thuận lợi cho một giải pháp hòa bình và tran chấp giữa các bên

      Điều 8: Các bên có trách nhiệm tôn trọng những điều khoản của Tuyên bố này và hành động phù hợp với sự tôn trọng đó

      Điều 9: Các bên khuyến khích các nước khác tôn trọng các nguyên tắc bao hàm trong Tuyên bố này

      Điều 10: Các bên liên quan khẳng định rằng việc tiếp thu một bộ quy tắc về ứng xử trên Biển Nam Trung Hoa sẽ thúc đẩy mạnh mẽ hơn hòa bình và ổn định trong khu vực và nhất trí làm việc trên căn bản đồng thuận để tiến tới hoàn thành mục tiêu này.

      Tuy nhiên việc thực hiện DOC gặp phải những khó khăn do tính tuyên bố chính trị và nguyên tắc của DOC. Chính vì vậy, sau 9 năm thực thi DOC, ngày 21 tháng 7 năm 2011 tại Bali - Indonesia, các nước ASEAN và Trung Quốc thỏa thuận thông qua Bản Quy tắc hướng dẫn thực hiện DOC.

      Trong Bản Quy tắc hướng dẫn thực hiện DOC các nước ASEAN và Trung Quốc tái khẳng định rằng DOC là văn kiện cơ bản được ký giữa các Nước Thành viên ASEAN và Trung Quốc, thể hiện cam kết chung nhằm thúc đẩy hòa bình, ổn định và tin cậy lẫn nhau và bảo đảm giải quyết hòa bình các tranh chấp ở Biển Đông; Công nhận rằng việc triển khai đầy đủ và hiệu quả DOC sẽ góp phần làm sâu sắc hơn Quan hệ Đối tác Chiến lược ASEAN-Trung Quốc vì Hòa bình và Thịnh vượng;

      Bản Quy tắc hướng dẫn thực hiện DOC có nội dung như sau:

      1.       Việc thực hiện DOC sẽ được tiến hành trên cơ sở từng bước phù hợp với các điều khoản của DOC.

      2.       Các bên tham gia DOC sẽ tiếp tục thúc đẩy đối thoại và tham vấn trên cơ sở phù hợp với tinh thần của DOC.

      3.       Thực hiện các hoạt động hay dự án theo quy định trong DOC cần phải được xác định rõ ràng.

      4.       Việc tham gia vào các hoạt động và dự án cần được tiến hành trên cơ sở tự nguyện.

      5.       Các hoạt động ban đầu được tiến hành trong khuôn khổ DOC nên là các biện pháp xây dựng lòng tin.

      6.       Quyết định triển khai các biện pháp, hoạt động cụ thể của DOC cần được dựa trên đồng thuận của các bên liên quan, và góp phần vào việc xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử.

      7.       Trong quá trình triển khai các dự án thỏa thuận trong khuôn khổ DOC, khi cần thiết, có thể nhờ đến sự hỗ trợ của các Chuyên gia và Nhân vật Nổi tiếng để đưa ra các đóng góp cụ thể cho các dự án liên quan.

      8.       Tiến độ triển khai các hoạt động, dự án thỏa thuận trong khuôn khổ DOC sẽ được báo cáo hàng năm lên Hội nghị Bộ trưởng ASEAN-Trung Quốc (PMC).

      Các bên tham gia ký kết hy vọng rằng, cam kết về Quy tắc hướng dẫn thực hiện DOC có thể tránh được xung đột và giải quyết tranh chấp bằng con đường hòa bình. Tuy nhiên Quy tắc hướng dẫn thực hiện DOC cũng vẫn chỉ là bước quá độ để xây dựng COC.

      Như vậy, mặc dù ý tưởng của các nước ASEAN và Trung Quốc cùng xây dựng COC từ năm 1996, cho đến nay vẫn chưa thành hiện thực. Theo quan điểm của ASEAN, COC vừa phải kế thừa những điểm tích cực của DOC, vừa phải được nâng cao thêm trên cơ sở tổng kết mười hai năm thực hiện DOC và nhằm đáp ứng yêu cầu của tình hình mới. Cùng với việc nhấn mạnh những nguyên tắc tích cực đã có trong DOC (hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn và tự do hàng hải, giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, tôn trọng luật pháp quốc tế và Công ước Luật biển), ASEAN mong muốn Bộ quy tắc COC phải có tính cam kết và ràng buộc cao hơn DOC, phải có cơ chế giám sát và bảo đảm thực hiện, và đặc biệt là bổ sung quy định nhấn mạnh nguyên tắc tôn trọng Vùng đặc quyền kinh tế và Thềm lục địa của các quốc gia ven biển theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển 1982.

 

PGS-TS Đinh Ngọc Vượng