PHẢN BÁC CUỐN SÁCH BÀN VỀ LỊCH SỬ, ĐỊA LÍ VÀ TÁC DỤNG CỦA ĐƯỜNG CHÍN ĐOẠN Ở NAM HẢI

14/07/2016
LỜI TOÀ SOẠN Mới đây, hai học giả Trung Quốc là Cao Chí Quốc (Zhiguo Gao) và Giả Binh Binh (Bing Bing Jia) đã công bố cuốn sách “Bàn về lịch sử, địa lí và tác dụng của đường chín đoạn ở Nam Hải” (The Nine-Dash Line in the South China Sea: History, Status and Implication). Cao Chí Quốc, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu chiến lược phát triển biển, Cục Hải Dương Trung Quốc, từ năm 2008 đảm nhận chức Thẩm phán Toà án Luật biển quốc tế, Giả Binh Binh, Giáo sư Luật quốc tế, Đại học Thanh Hoa. Các tác giả tự nhận thấy đây là quan điểm cá nhân, không đại diện cho bất cứ tổ chức hay cơ quan nào. Chúng tôi xin giới thiệu bài viết của PGS TS Đinh Ngọc Vượng, phản biện về cuốn sách này.

        Cái gọi là Đường lưỡi bò hay Đường chín (mười, mười một) đoạn của Trung Quốc ở Biển Đông gây ra quá nhiều tranh cãi. Chính phủ Trung Quốc nói về đường này rất mập mờ (theo cái kiểu “ai muốn hiểu thế nào thì hiểu”), còn các học giả Trung Quốc thì “tung hoả mù”. Người thì cãi lấy được, người thì a dua, người thì bác bỏ hay chí ít cũng không dám mạnh mồm. Cuốn sách mà chúng tôi đề cập ở đây là sự kết hợp tung hoả mù với cãi lấy được cộng với xuyên tạc pháp luật quốc tế, xuyên tạc sự thật lịch sử.

Cuốn sách được chia thành 6 phần lớn:

I. Địa lí và ý nghĩa của Nam Hải (Biển Đông)

II. Lịch sử phát triển của đường chín đoạn trong thực tiễn Trung Quốc

III. Tính chất và địa vị pháp lí của đường chín đoạn: Chủ quyền và quyền tài phán

IV. Vấn đề pháp lí liên quan đường chín đoạn

V. Kiến nghị chính sách và triển vọng

VI. Kết luận

        Trong phần mở đầu tác giả nêu rõ nhiệm vụ của cuốn sách là nói về ý nghĩa và tác dụng của đường chín đoạn; cơ sở pháp lí quốc tế của đường chín đoạn; phạm vi yêu sách của Trung Quốc; danh nghĩa lịch sử của đường chín đoạn và kéo theo các quyền lợi khác của Trung Quốc.

        Phần đầu của cuốn sách giới thiệu ngắn gọn về vị trí địa lí và ý nghĩa của Nam Hải (Biển Đông). Phần thứ hai nói về quá trình phát triển của đường chín đoạn trong thực tiễn của nhà nước Trung Quốc ở những giai đoạn lịch sử khác nhau. Phần thứ ba khảo sát mục đích và địa vị của đường chín đoạn. Phần thứ tư thảo luận về một số vấn đề pháp lí liên quan tới đường chín đoạn. Phần thứ năm đề xuất một số kiến nghị và triển vọng để giải quyết tranh chấp ở Nam Hải (Biển Đông). Phần cuối là kết luận của cuốn sách.

        Quan điểm cơ bản nhất của tác giả thể hiện ở chỗ “đường chín đoạn từ trước đến nay có cơ sở luật pháp quốc tế, cơ sở này gồm tập quán quốc tế về các mặt như phát hiện, chiếm hữu và danh nghĩa lịch sử, cùng với những điều khoản có liên quan trong UNCLOS 1982” (tr. 55).

        Đương nhiên, tác giả không thể viện dẫn bất cứ điều khoản nào của UNCLOS 1982 để biện minh cho quan điểm tổng thể của mình. Tác giả cho rằng, “đường chín đoạn với nội dung rộng lớn hơn do tập quán pháp mang lại đã bổ sung thêm cho những quy định có liên quan của UNCLOS 1982” (tr.55). Và một khi không thể tìm thấy bất cứ quy định nào của UNCLOS 1982 về đường chín đoạn nên tác giả kết luận một cách hồ đồ “danh nghĩa lịch sử đã đặt nền móng cho các quyền lịch sử (historic rights) mà Trung Quốc được hưởng ngoài phạm vi quy định của UNCLOS 1982” (tr. 55). Thế là đã rõ. Cho dù tác giả nói về tập quán là cơ sở cho đường chín đoạn, “bổ sung thêm cho những quy định có liên quan của UNCLOS 1982” (tr.55). Và do vậy, chính tác giả lại nói thẳng là UNCLOS 1982 không có quy định về đường chín đoạn.

        Chúng tôi muốn tìm hiểu cho rõ khái niệm “tập quán pháp”, “tập quán quốc tế”. Mọi người đều biết rằng, theo quy định tại khoản 1, Điều 38 Quy chế Toà án công lí quốc tế, các quy phạm điều ước và các quy phạm tập quán trong luật quốc tế đều được coi là nguồn cơ bản, có giá trị như nhau của pháp luật quốc tế.

        Tuy nhiên, ở đây có hai vấn đề lớn cần chú ý. Một là, hiểu thế nào là tập quán quốc tế? Hai là, UNCLOS 1982 ra đời trong hoàn cảnh nào và ý nghĩa của nó đối với việc điều chỉnh “trọn gói” mọi vấn đề liên quan đến biển và đại dương quốc tế?

        Tập quán pháp hay còn gọi là những quy phạm tập quán quốc tế cần được hiểu thế nào?

        Khoa học pháp lí quốc tế đã có sự thừa nhận chung về khái niệm quy phạm tập quán. Đó chính là quy tắc xử sự, quy tắc hành vi được hình thành trong một thời gian dài trong quan hệ quốc tế, được các chủ thể tham gia quan hệ đó thừa nhận như quy tắc xử sự đúng đắn và do vậy các chủ thể đó mặc nhiên tuân theo. Theo các tác giả cuốn sách, đường chín đoạn được coi là của Trung Quốc, hình thành trên cơ sở tập quán quốc tế, mà các quốc gia trong khu vực chưa bao giờ thừa nhận, thậm chí là chưa biết tới. Và cho đến tận hôm nay, các quốc gia khu vực vẫn chỉ là “phỏng đoán” xem nó là cái gì và tại rất nhiều diễn đàn quốc tế và khu vực người ta cứ đặt câu hỏi về đường chín đoạn nhưng chưa hề nhận được câu trả lời chính thức từ Chính phủ Trung Quốc. Vậy thì tại sao lại nói đường chín đoạn được hình thành từ tập quán quốc tế? Từ khi công bố “đường lưỡi bò” tới nay, Đài Loan và Trung Quốc chưa bao giờ làm rõ ý nghĩa của ranh giới đó là gì. “Đường lưỡi bò” do Trung Quốc hiện nay tuyên bố không có giá trị pháp lí, cơ sở chứng minh, không chỉ bị các nước có tranh chấp chủ quyền bác bỏ mà thế giới cũng không chấp nhận. Thế giới muốn Trung Quốc làm rõ ý nghĩa đường ranh giới mà chính các chuyên gia công pháp quốc tế Trung Quốc và Đài Loan cũng không thống nhất ý kiến với nhau khi “đường lưỡi bò” không có kinh độ, vĩ độ cụ thể, cũng không có căn cứ pháp lí. Và người ta  đang thấy người Trung Quốc chỉ làm một cái việc gây tranh cãi: vẽ bản đồ. Mới đây nhất lại là bản đồ mười đoạn thay cho bản đồ chín đoạn (và trước đó nữa lại là bản đồ mười một đoạn). Tấm bản đồ khổ dọc mới vẽ Đường 10 đoạn bị chính các học giả Trung Quốc cho là “trò trẻ con”. Cái gọi là “Đường 9 đoạn” (còn được gọi là “Đường Lưỡi bò”) từ trước đến nay được chính phủ và giới truyền thông cùng nhiều học giả Trung Quốc coi là “đường lịch sử truyền thống”, sử dụng làm căn cứ để thôn tính hầu như toàn bộ biển Đông (họ gọi là “Nam Hải”). Mới đây, một nhà xuất bản bản đồ của Trung Quốc lại đưa ra một Đường lưỡi bò mới gồm 10 đoạn. Việc này tiếp tục bị chính nhiều học giả người Trung Quốc phê phán, bác bỏ1.

        Khi đã nói đến quy phạm tập quán quốc tế, cần phải nói rõ tập quán đó được hình thành như thế nào và đã từng được các nước trong khu vực công nhận ra sao. Ngay trong một quốc gia, pháp luật quốc gia cũng thừa nhận quy phạm tập quán. Đó là những quy tắc xử sự, quy tắc hành vi được hình thành trong mỗi cộng đồng dân cư. Nói tới cộng đồng dân cư nào đó, người ta có thể nói về “phong tục, tập quán” của cộng đồng. Phong tục tập quán truyền từ đời này sang đời khác, người ta mặc nhiên công nhận và tuân thủ. Không thể có ai đó trong cộng đồng “sáng tạo” ra cái gì đó mà người đó gọi là tập quán, nhưng không ai biết về tập quán đó và cái gọi là “tập quán” đó chỉ mang lại lợi ích cho người “bí mật sáng tạo” ra nó, gây phương hại đến lợi ích chung của cộng đồng và không ai trong cộng đồng ủng hộ. Bản thân người “sáng tạo” ra cái gọi là tập quán đó cũng chưa bao giờ nói rõ cho mọi người mà cứ theo kiểu “úp úp, mở mở” để thiên hạ “đoán già, đoán non”. Khi anh chiếm hết đất của láng giềng mà lại bảo là anh có quyền như vậy vì đó là “tập quán” của cộng đồng, thì liệu có ai chịu được. Khi người ta đưa ra những quy định của pháp luật nhà nước thì anh nói tập quán này có trước khi pháp luật được ban hành nên không làm theo quy định của pháp luật, thì liệu có ai đồng tình với anh?

        Trong phần I,  tác giả nói về “Địa lí và ý nghĩa của Nam Hải” (tr. 56-58). Tác giả khẳng định Nam Hải (Biển Đông) “tạo cho các nước ven bờ trở thành quốc gia có biển” (tr. 58). Điều đó không có gì là lạ. Tuy nhiên, cái lạ là ở chỗ, các tác giả cho rằng “Tầm quan trọng về mặt chiến lược và kinh tế của Nam Hải (Biển Đông) không phải là chuyện gần đây mới có, thậm chí có thể truy nguyên về hơn 2000 năm trước” (tr.58), thì quả thực, tác giả đã lấy chuyện đương đại, suy nghĩ và hoàn cảnh của người đương đại để suy luận về 2000 năm trước và lại còn cho rằng “trong tiến trình lịch sử đó”, tức từ 2000 năm, “ảnh hưởng quan trọng của Trung Quốc là vô cùng rõ rệt” (tr.58). Tác giả cũng  chỉ khẳng định chứ không có chứng cứ, lập luận gì thêm.

        Cũng như không ít tác giả Trung Quốc, Zhiguo Gao và Bing Bing Jia thường dẫn chứng lịch sử cách đây mấy ngàn năm để nói về nhà nước Trung Hoa đã “cai quản” Nam Hải (Biển Đông). Thử hỏi, khi đó, trên đất Trung Quốc có hàng trăm, hàng ngàn bang quốc phong kiến cát cứ, chiến tranh liên miên, tranh hùng, tranh cứ lẫn nhau, thì nhà nước nào “cai quản” Nam Hải (Biển Đông)?

        Trong phần II “Lịch sử phát triển của đường chín đoạn trong thực tiễn Trung Quốc” (tr. 59-78), tác giả bắt đầu bằng việc nói về hoạt động của Trung Quốc tại Nam Hải trước năm 1935: khai thác hoà bình và hữu hiệu. Tác giả cho rằng ngay từ năm 1935 các ngư dân và thuyền viên của Trung Quốc đã hiểu biết rất rõ về Nam Hải (Biển Đông). Và rằng “ngay trong Kinh Thi thời Xuân Thu (474-221 TCN) đã xuất hiện tên gọi Nam Hải. Thực ra ngư dân hay thuyền viên biết về Nam Hải (Biển Đông) thì chẳng có gì là ngạc nhiên cả. Ngư dân hay thuyền viên tất cả các nước ven biển đều biết về biển. Còn tên gọi Nam Hải xuất hiện sớm ở Trung Quốc cũng là chuyện bình thường. Nam Hải là biển phía Nam, cũng như người Việt Nam gọi Biển Đông vì nó ở phía đông, cũng là từ xa xưa. Sau này, người phương Tây gọi vùng biển này là Biển Nam Trung Hoa cũng là điều bình thường, giống như người phương Tây gọi vùng biển gần Ấn Độ là Ấn Độ dương. Người Việt Nam từ ngàn đời đã gọi vùng biển này là Biển Đông - Bể Đông2. Những bằng chứng mà tác giả đưa ra và cho rằng đó là bằng chứng lịch sử cũng chỉ là ghi chép của người Trung Quốc theo thuyền buôn đi bán hàng, khi đi qua vùng biển này, không có gì gọi là chính sử cả.

        Tiếp đó Zhiguo Gao và Bing Bing Jia nói về việc đầu thế kỉ XX các nhà biên soạn bản đồ tư nhân “vẽ đường biên giới biển liên tục, đưa một phần của Nam Hải và hai quần đảo trong đó vào trong phạm vi lãnh thổ Trung Quốc” (tr. 63). Điều đáng nói là, tác giả trích theo sách của người khác về cái gọi là các nhà biên soạn bản đồ tư nhân đó lại được Hàn Chấn Hoa viết trong cuốn sách “Tổng hợp sử liệu các đảo Nam Hải nước ta” được biên soạn vào năm 1998.

        Rõ ràng, theo cách nói của Zhiguo Gao và Bing Bing Jia thì, một là Nam Hải và hai quần đảo trong đó lần đầu tiên được thể hiện trong bản đồ tư nhân vào năm 1914, hai là, điều này bất chấp việc Nam Hải và hai quần đảo trong đó đang thuộc chủ quyền của Việt Nam do người Pháp cai quản.

        Và cũng theo Zhiguo Gao và Bing Bing Jia, mãi đến năm 1935 chính phủ Trung Quốc mới thành lập Uỷ ban thẩm tra bản đồ tư nhân, có nghĩa là dựa vào bản đồ tư nhân để xuất bản “Bản đồ các đảo ở Nam Hải của Trung Quốc”. Thật trở trêu, chính Zhiguo Gao và Bing Bing Jia thừa nhận Trung Quốc dựa vào bản đồ tư nhân để trao công hàm phản đối Chính phủ Pháp khi người Pháp lúc đó dựa vào chính phủ bảo hộ mà đang cai quản các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

        Việc tư nhân vẽ bản đồ hẳn có mục đích riêng của họ. Có thể là sơ đồ đường hàng hải để thuận tiện cho việc lưu thông trên biển. Điều đó hoàn toàn khác với việc Nhà nước lập bản đồ, xác định biên giới quốc gia. Trước thời điểm này, tất cả các bản đồ của Trung Quốc được vẽ chính thức đều coi đảo Hải Nam là cực nam của Trung Quốc.

        Tiếp đó Zhiguo Gao và Bing Bing Jia nói về “Lịch sử phát triển của đường chín đoạn trong giai đoạn 1935 đến 1956” (tr.64-67).

        Tác giả nói rằng năm 1946, căn cứ “Tuyên bố Cairo” và “Tuyên bố Potsdam” Chính phủ Trung Quốc thu hồi hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa từ tay Nhật Bản (tr. 64). Thực ra, không hề có việc Trung Quốc “thu hồi” hai quần đảo này. Ngay phần chú thích (chú thích số 27) mà tác giả dẫn ra cũng đã phủ nhận sự kiện này. Phần về các hiệp ước quốc tế San Francisco, Potsdam: tác giả không thuyết phục vì chính các hiệp ước đó không nói giao Hoàng Sa, Trường Sa cho Trung Quốc. Trong Hội nghị San Francisco 1951 lúc đó Liên Xô đề xuất giao cho Trung Quốc nhưng vấn đề này hội nghị đã không đi tới quyết định nào cả3.

        Như mọi người đều biết, trước khi xảy ra Chiến tranh Thế giới thứ hai vào năm 1938, Nhật Bản đã chiếm đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa, lấy cớ là để khai thác vì mục đích thương mại, thực chất là để lập căn cứ chiến lược, làm bàn đạp tấn công vùng Ðông Nam Á. Theo R. Serene thì “Năm 1938 Nhật Bản mượn cớ khai thác thương mại đã chiếm đảo Phú Lâm để bành trướng sự kiểm soát tới các đảo Cam Tuyền và Linh Côn…”4. Nhật Bản đã quyết định đặt quần đảo Trường Sa dưới quyền kiểm soát của Nhật Bản vì lí do tại đây đã thiếu một chính quyền hành chính địa phương nên đã làm thiệt hại đến quyền lợi của Nhật Bản. Trong suốt thời gian của Chiến tranh Thế giới thứ II, Nhật Bản đã đóng quân trên hai quần đảo này cho tới khi đầu hàng quân đội Ðồng minh.

        Vào cuối năm 1943, trong lúc chiến tranh đang ở mức độ ác liệt nhất thì các nhà lãnh đạo cấp cao của Hoa Kỳ, Anh và Trung Hoa Dân Quốc đã bí mật gặp nhau tại Cairo, thủ đô nước Ai Cập, từ 23 đến 27 tháng 11 năm 1943 để thảo luận các chiến lược tiêu diệt phe Trục Ðức - Ý - Nhật. Ngày 26-11-1943, Tổng thống Hoa Kì Franklin D. Roosevelt, Thủ tướng Anh Winston Churchill và Tổng thống Trung Hoa Dân Quốc Tưởng Giới Thạch đã kí một bản tuyên bố chung - Tuyên bố Cairo, trong đó có một đoạn như sau: “Ðối tượng của các nước này (tức là của ba nước Ðồng minh) là phải tước bỏ quyền của Nhật Bản trên tất cả các đảo ở Thái Bình Dương mà nước này đã cưỡng đoạt hay chiếm đóng từ khi có Chiến tranh Thế giới I năm 1914 và tất cả các lãnh thổ Nhật Bản đã cướp của người Trung Hoa, như là Mãn Châu, Ðài Loan và Bành Hồ, phải được hoàn trả Trung Hoa Dân Quốc. Nhật Bản cũng sẽ phải bị trục xuất khỏi các lãnh thổ khác đã chiếm được bằng võ lực và lòng tham”5. Như vậy đã rõ, Tuyên bố Cairo có hai quy định quan trọng: Một là, chỉ có các đất Mãn Châu, Ðài Loan và Bành Hồ được hoàn trả cho Trung Quốc; Hai là, các lãnh thổ khác mà Nhật Bản chiếm được thì bản tuyên cáo này chỉ quy định việc trục xuất Nhật Bản, chứ không hề nói tới việc hoàn trả chúng cho Trung Quốc.

        Zhiguo Gao và Bing Bing Jia nói rằng “Khi đó Việt Nam và các nước khác đều không phản đối điều này” (tr. 64), tức không phản đối việc Trung Quốc “thu hồi” Hoàng Sa và Trường Sa. Sự thật là, tại Hội nghị San Francisco, Nhật tuyên bố từ bỏ tất cả các đảo, Đại diện Chính phủ Bảo Đại là Thủ tướng Trần Văn Hữu khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo mà không có nước nào lên tiếng phản đối6. Hội nghị họp từ 6 và 7-9-1951 với 51 quốc gia tham dự. Bản tuyên bố của Thủ tướng Trần Văn Hữu có đoạn: “Cũng vì cần phải thành thật lợi dụng tất cả mọi cơ hội để dập tắt những mầm mống các tranh chấp sau này, chúng tôi xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời của chúng tôi trên quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa”7.

        Tác giả cuốn sách, Zhiguo Gao và Bing Bing Jia viết rằng, Hải quân Trung Quốc khi đó được điều đi thu hồi các đảo ở Nam Hải (Biển Đông) đã dựng bia chủ quyền trên đảo Vĩnh Hưng của quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) và đảo Thái Bình của quần đảo Nam Sa (Trường Sa). Rõ ràng hành động mà Zhiguo Gao và Bing Bing Jia nói là “thu hồi” là sai trái. Các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa khi đó hoàn toàn thuộc chủ quyền của Việt Nam.

        Chúng tôi chỉ nêu ra một số sự kiện diễn ra trước khi Trung Quốc có hành động mà Zhiguo Gao và Bing Bing Jia gọi là “thu hồi” Hoàng Sa và Trường Sa.

○ 9-6-1885: Hiệp ước Pháp – Thanh Thiên Tân là một hiệp ước hữu nghị, chấm dứt xung đột giữa Pháp và Trung Hoa.

○ 26-6-1887: Hiệp ước Pháp – Thanh ấn định biên giới giữa Bắc Việt Nam và Trung Hoa.

○ 1895 – 1896: Vụ La Bellona và Imeji Maru. Có hai chiếc tàu La Bellona và Imeji Maru bị đắm gần Hoàng Sa, một chiếc bị đắm năm 1895, và chiếc kia bị đắm năm 1896. Những người đánh cá ở Hải Nam bèn thu lượm đồng từ hai chiếc tàu bị đắm. Các công ti bảo hiểm của hai chiếc tàu này phản đối chính quyền Trung Hoa. Chính quyền Trung Hoa trả lời là Trung Hoa không chịu trách nhiệm, vì Hoàng Sa không phải là lãnh thổ của Trung Hoa, và cũng không phải của An Nam8

○ Năm 1899: Toàn quyền Paul Doumer đề nghị chính phủ Pháp xây ngọn hải đăng nhưng không thành vì tài chính bị thiếu.

○ Năm 1909: Tổng đốc Lưỡng Quảng ra lệnh thám thính quần đảo Hoàng Sa.

○ Năm 1920: Mitsui Busan Kaisha xin phép Pháp khai thác quần đảo Hoàng Sa. Pháp từ chối.

○ Bắt đầu năm 1920: Pháp kiểm soát quan thuế và tuần tiễu trên đảo.

○ 30-3-1921: Tổng đốc Lưỡng Quảng sáp nhập Hoàng Sa với Hải Nam. Pháp không phản đối.

○ Bắt đầu từ năm 1925: Tiến hành những thí nghiệm khoa học trên đảo do Dr. Krempt, Giám đốc Viện Hải dương học Nha Trang tổ chức.

○ 8-3-1921: Toàn quyền Đông Dương tuyên bố hai quần đảo: Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ của Pháp.

○ Năm 1927: Tàu De Lanessan viếng thăm quần đảo Trường Sa.

○ Năm 1930: Ba tàu Pháp: La Malicieuse, L’Alerte và L’Astrobale chiếm quần đảo Trường Sa và cắm cờ Pháp trên quần đảo này.

○ Năm 1931: Trung Hoa ra lệnh khai thác phân chim tại quần đảo Hoàng Sa, ban quyền khai thác cho Công ti Anglo-Chinese Development. Pháp phản đối.

○ Năm 1932: Pháp chính thức tuyên bố An Nam có chủ quyền lịch sử trên quần đảo Hoàng Sa. Pháp sáp nhập quần đảo Hoàng Sa với tỉnh Thừa Thiên.

○ Năm 1933: Quần đảo Trường Sa được sáp nhập với tỉnh Bà Rịa. Pháp cũng đề nghị với Trung Hoa đưa vấn đề ra Toà án Quốc tế nhưng Trung Hoa từ chối.

○ Năm 1938: Pháp cho đặt bia đá, xây hải đăng, đài khí tượng và đưa đội biên phòng người Việt ra để bảo vệ đảo Pattle (đảo Hoàng Sa) của quần đảo Hoàng Sa.

○ Năm 1946: Nhật bại trận phải rút lui. Pháp trở lại Pattle (An Vĩnh) nhưng vì chiến cuộc ở Việt Nam nên phải rút.

○ Năm 1947: Quân của Tưởng Giới Thạch đổ bộ lên đảo Woody (đảo Phú Lâm) của quần đảo Hoàng Sa. Pháp phản đối và gửi quân Pháp - Việt trở lại đảo. Hai bên đàm phán tại Paris. Pháp đề nghị đưa ra Trọng tài quốc tế nhưng Trung Hoa từ chối.

○ Năm 1950: Quân của Tưởng Giới Thạch rút khỏi đảo Woody.

        Như vậy, cho đến thời điểm 1946, khi Zhiguo Gao và Bing Bing Jia nói rằng Trung Quốc “thu hồi” các đảo ở Nam Hải (Biển Đông) đã dựng bia chủ quyền trên đảo Vĩnh Hưng của quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) và đảo Thái Bình của quần đảo Nam Sa (Trường Sa), thực sự là xâm lược các đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam9. Sau khi Trung Quốc dùng vũ lực chiếm đóng Hoàng Sa tháng 1-1974, nhiều đoàn khảo cổ Trung Quốc đến các đảo thuộc quần đảo này và gọi là “phát hiện” nhiều cổ vật như tiền cổ, đồ sứ, đồ đá chạm trổ trên các hòn đảo này, song đều không có giá trị gì để minh xác chủ quyền Trung Quốc, trái lại họ lại phát hiện ở mặt bắc ngôi miếu “Hoàng Sa Tự” ở đảo Vĩnh Hưng, tức đảo Phú Lâm (Ile Boisée), lại là bằng chứng hiển nhiên vết tích của việc xác lập chủ quyền của Việt Nam. Có lẽ các hiện vật đó người Trung Quốc có thể tìm thấy nhiều hơn ở Gò Đống Đa (Hà Nội).

        Việc Trung Quốc dùng vũ lực chiếm quần đảo Hoàng Sa năm 1974 và một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa cuối những năm 1980 là vi phạm nguyên tắc “Không dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế”. Một trong những nguyên tắc chung của pháp luật được thừa nhận chung là “hành vi bất hợp pháp không thể tạo ra quyền lợi”. Zhiguo Gao và Bing Bing Jia đã cố tình hoặc không hề biết gì đến những nguyên tắc cơ bản này của pháp luật.

        Zhiguo Gao và Bing Bing Jia đã dùng cơ sở của việc Trung Quốc “thu hồi” Hoàng Sa và Trường Sa để thực hiện mục tiêu chính của cuốn sách: sự xác lập đường 11 đoạn trên biển Đông.

        Theo tác giả, lúc đầu là “năm 1947, sau quá trình khảo sát, đo đạc, Chính phủ Trung Quốc đã phát hành một tấm bản đồ nội bộ, vạch ra một đường đứt đoạn gồm 11 đoạn để chỉ rõ phạm vi thực thi quyền lực ở Nam Hải” (tr. 64-65). Tác giả cũng viết là cũng trong năm đó Bộ Nội chính xuất bản công khai địa danh tiếng Trung và tiếng Anh của 172 đảo ở Nam Hải (Biển Đông). Zhiguo Gao và Bing Bing Jia đã trích theo cuốn sách của Ngô Sỹ Tồn10. Thực ra độc giả Việt Nam không lạ gì quan điểm và cách “nói lấy được” của Ngô Sỹ Tồn qua cuốn sách “Nguyên nhân và sự phát triển về tranh chấp Nam Sa”11. Do vậy chúng tôi không lấy làm lạ khi Zhiguo Gao và Bing Bing Jia luôn luôn viện dẫn ý kiến của Ngô Sỹ Tồn, kể cả các sự kiện phát hành bản đồ năm 1947 hay tháng 2 năm 1948 cũng là trích theo Ngô Sỹ Tồn. Hầu như Zhiguo Gao và Bing Bing Jia không đưa thêm những sự kiện mới. Có thể nói Zhiguo Gao và Bing Bing Jia cũng như Ngô Sỹ Tồn và các học giả khác của Trung Quốc đều có “tiếng nói chung” trong việc nói về lịch sử hình thành đường 11 đoạn do Trung Quốc vẽ trên bản đồ Biển Đông.

        Các tác giả đã kết luận rằng, bất cứ nỗ lực hoặc hành động nào nhằm bác bỏ hoặc tước đoạt các quyền mà “đường 9 đoạn” thiết lập nên đều sai lầm và không thực tế về chính trị. Gao Zhiguo nói rằng, sách là sự tổng kết rõ ràng và “giải thích định nghĩa cũng như cơ sở hợp pháp” của đường 9 đoạn, cung cấp “nền tảng hợp pháp để Trung Quốc bảo vệ chủ quyền biển” (tr. 71). Tuy nhiên, các tác giả không nêu được bất kì chi tiết nào liên quan việc “làm rõ” các cơ sở pháp lí dựa trên luật pháp quốc tế của “đường lưỡi bò”.

        Thế giới muốn Trung Quốc làm rõ ý nghĩa đường ranh giới mà chính các chuyên gia công pháp quốc tế Trung Quốc và Đài Loan cũng không thống nhất ý kiến với nhau khi “đường lưỡi bò” không có kinh độ, vĩ độ cụ thể, cũng không có căn cứ pháp lí.

        Đây là cuốn sách đầu tiên về đường lưỡi bò mà Trung Quốc tự vẽ ra để yêu sách chủ quyền ở Biển Đông, trong đó trình bày những dữ liệu được Bắc Kinh xem là lịch sử và cơ sở pháp lí của đường này.

        Các tác giả ngang nhiên cho rằng đường chín đoạn là đường có tính lịch sử về các quyền hàng hải của Trung Quốc, trong đó có “quyền với các đảo trên Biển Đông và quyền đánh bắt, khai thác khoáng sản” trong phạm vi trên.

        Đường lưỡi bò (đường 9 đoạn) là khái niệm được Trung Quốc đưa ra nhằm khẳng định tuyên bố chủ quyền với hầu hết Biển Đông, bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Yêu sách này của Trung Quốc bị các nước có liên quan, trong đó có Việt Nam và Philippines, cực lực phản đối.

        Tuy nhiên, Gao Zhiguo, một trong các tác giả của cuốn sách trên, vẫn ngang nhiên bịa đặt rằng năm 2014 “kỉ niệm 100 năm ngày công bố đường chín đoạn” và biện bạch đây là cơ sở pháp lí quan trọng để Trung Quốc bảo vệ các quyền hàng hải của nước này. Có lẽ ý tưởng về “kỉ niệm 100 năm ngày công bố đường chín đoạn” mà Zhiguo Gao và Bing Bing Jia đưa ra là ý tưởng mới, do Zhiguo Gao và Bing Bing Jia mới nghĩ ra chứ không thể là sự kiện có thật. Bản thân Zhiguo Gao và Bing Bing Jia và các học giả khác của Trung Quốc cũng mới chỉ nói về “nửa thế kỉ” mà thôi. Chính Zhiguo Gao và Bing Bing Jia đã viết “Năm 1953, số lượng đường đứt đoạn ở Nam Hải (Biển Đông) từ 11 đoạn giảm xuống thành 9 đoạn, cũng trong năm đó, đường 9 đoạn này mới xuất hiện lần đầu tiên trong bản đồ do Trung Quốc đại lục xuất bản” (tr. 67). Tuy nhiên, điều đáng nói hơn là, liệu một quốc gia đơn phương, âm thầm vẽ bản đồ một cách tuỳ tiện, thiếu cơ sở pháp lí và thực tiễn, không có quốc gia nào có liên quan biết đến, chỉ là bản đồ nội bộ rồi sau đó tuyên bố chủ quyền đối với vùng biển rộng lớn.

        Theo cách nói của Zhiguo Gao và Bing Bing Jia, khi Trung Quốc “thu hồi” hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thì Trung Quốc cũng có quyền vẽ ngay đường 11 đoạn bao phủ gần hết Biển Đông. Và cái gọi là bản đồ có hình 11 đoạn trên Biển Đông lại chỉ là bản đồ công bố nội bộ của Trung Quốc. Điều đó có nghĩa là, không có quốc gia liên quan nào biết về sự hiện diện của đường 11 đoạn đó.

        Việc bỏ hai đoạn, còn lại 9 đoạn cũng được Zhiguo Gao và Bing Bing Jia lí giải một cách tuỳ tiện: “Năm 1953, số lượng đường đứt đoạn ở Nam Hải (Biển Đông) từ 11 đoạn xuống thành 9 đoạn, cũng nằm trong đó, đường 9 đoạn mới này xuất hiện lần đầu tiên trong bản đồ do Trung Quốc đại lục xuất bản” (tr. 67). Tác giả cũng lí giải thế này: “Về nguyên nhân giảm số lượng đường đứt đoạn, được suy đoán là vì xử lí hai đoạn trong Vịnh Bắc Bộ Trung Quốc - Việt Nam. Khi đó quan hệ hai nước mật thiết, hơn nữa đều chủ trương lãnh hải 3 hải lí, tuỳ tình hình sau đó thay đổi, nhưng đường chín đoạn trở thành bản chuẩn trong bản đồ do Trung Quốc xuất bản” (tr. 67)12. Rõ ràng việc vẽ đường đứt đoạn trên bản đồ công bố ở Trung Quốc hết sức tuỳ tiện: Không có toạ độ, thích thì thay đổi, thích thì giữ nguyên và không nói về giá trị pháp lí của đường gãy khúc.

        Trong phần tiếp theo, tác giả trình bày về “Sự phát triển của đường chín đoạn từ năm 1958 đến năm 2011”.

        Zhiguo Gao và Bing Bing Jia tiếp tục không nói về ý nghĩa, nội dung pháp lí của đường 9 đoạn mà lại trình bày về việc Trung Quốc ban hành “Luật lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa”13. Luật quy định lãnh thổ lục địa của Trung Quốc gồm 4 đảo và các đảo khác ở Nam Hải (Biển Đông). Lãnh hải của Trung Quốc rộng 12 hải lí, đường cơ sở lãnh hải của Trung Quốc là đường cơ sở thẳng. Tiếp đó, Trung Quốc ban hành “Luật vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa”14. Tác giả có nói Luật này quy định những nội dung của Luật không ảnh hưởng đến “quyền lịch sử” (historic rights)” mà Trung Quốc được hưởng. Tuy nhiên, tác giả lại không giải thích “quyền lịch sử” (historic rights)” là gì, nội hàm ra sao. Đây là khái niệm không có trong luật biển quốc tế, chỉ có các tác giả Trung Quốc dùng để tự cho mình cái quyền gọi là “quyền lịch sử”.

        Tiếp đó Zhiguo Gao và Bing Bing Jia nói về “Hành vi quốc tế của Trung Quốc”. Tác giả thừa nhận là những năm 70 của thế kỉ XX “tình hình Nam Hải (Biển Đông) có những thay đổi mạnh mẽ. Mọi người chúng ta đều nhớ về sự kiện Trung Quốc tấn công quân sự, hay nói chính xác là dùng vũ lực để đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam vào tháng 1 năm 1974. Zhiguo Gao và Bing Bing Jia viết: “Tháng 1 năm 1974, sau khi giành thắng lợi trong một cuộc xung đột quy mô nhỏ với Việt Nam Cộng hoà (Nam Việt Nam), Trung Quốc thu hồi Tây Sa (Hoàng Sa)” (tr. 70). Rõ ràng Zhiguo Gao và Bing Bing Jia đã dùng thuật ngữ “thu hồi” trong hai trường hợp “thu hồi” trên giấy, tức là việc xuyên tạc Tuyên bố Cairo và “thu hồi” thông qua hành vi xâm lược vào tháng 1 năm 1974. Cái gọi là “cuộc xung đột quy mô nhỏ với Việt Nam Cộng hoà” thực chất là cuộc “tấn công xâm lược”, vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc không dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực, một trong 7 nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế, được nêu trong Tuyên bố về các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 24-10-197015.

        Cuộc tấn công quân sự của Trung Quốc để chiếm quần đảo Hoàng Sa tháng 1 năm 1974 và chiếm đảo Gạc Ma trên quần đảo Trường Sa của Việt Nam năm 1988 chính là hành động xâm lược, không thể coi là “thu hồi” như Zhiguo Gao và Bing Bing Jia nói. Đó là vì các quần đảo này đã có chủ sở hữu và chủ sở hữu đang hiện diện và thực thi quyền sở hữu của mình và Trung Quốc dùng vũ lực tấn công đánh chiếm. Chúng ta có thể đối chiếu hành động của Trung Quốc với nội dung Nghị quyết số 3314 (XXIX) ngày 14-12-1974 của Đại hội đồng Liên hợp quốc về định nghĩa xâm lược để thấy rõ bản chất hành vi xâm lược của Trung Quốc. Nghị quyết khẳng định, bất kì hành vi nào trong số những hành vi dưới đây, không phụ thuộc vào việc có tuyên chiến hay không đều bị coi là hành động xâm lược. Hành động của Trung Quốc được nêu ngay trong khoản a, Điều 2 của Nghị quyết 3314 (XXIX) là xâm lược: “tấn công của lực lượng vũ trang của một nước vào lãnh thổ của một nước khác hay sự chiếm đóng quân sự, cho dù là tạm thời là kết quả của cuộc tấn công quân sự hay dùng vũ lực để xâm chiếm lãnh thổ hay một bộ phận lãnh thổ của nước khác”16. Chúng tôi nghĩ rằng, là nhà công pháp quốc tế, Zhiguo Gao chắc chắn phải biết và nắm rõ Nghị quyết số 3314 (XXIX) ngày 14-12-1974 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc về định nghĩa xâm lược và không thể nói đó là hành vi “thu hồi” lãnh thổ.

        Phần 3.2 tác giả nói về “Hành vi quốc tế của Trung Quốc”. Phần này tác giả trình bày về những quan điểm khác nhau của Trung Quốc, Việt Nam, Malaysia, Philippines về những vấn đề Nam Hải (Biển Đông) qua công hàm của các nước gửi Tổng thư kí Liên Hợp Quốc (2009-2011). Tác giả cho rằng Báo cáo chung của Việt Nam và Malaysia nộp lên Uỷ ban ranh giới thềm lục địa ngày 6-5-2009 là không đúng và tác giả cũng dẫn ra quan điểm của Trung Quốc trong Công hàm số 1 ngày 7-5 và Công hàm số 2 ngày 14-4-2011 phản đối quan điểm của Việt Nam và Malaysia cũng như của Philippine. Đương nhiên, tác giả thừa nhận quan điểm của các nước này khác với quan điểm của Trung Quốc.

(Còn nữa, kì sau đăng tiếp)

 

 

 

CHÚ THÍCH

1 Ngày 27-6-2014, học giả Lưu Tiểu Tinh cho đăng trên trang cá nhân của ông bài viết mang tên “Trò trẻ con: Đường 9 đoạn đột nhiên biến thành Đường 10 đoạn”, phê phán việc NXB Địa đồ tỉnh Hồ Nam cho xuất bản hai tấm bản đồ hành chính và địa hình Trung Quốc khổ dọc, lần đầu tiên thể hiện các đảo ở biển Đông cùng tỉ lệ thay vì một bản phóng to ở góc dưới như các bản đồ khổ ngang trước đây. Ông Lưu Tiểu Tinh viết: “Trong bản đồ Trung Quốc khổ dọc mới xuất bản, “Đường 9 đoạn” truyền thống ở Nam Hải (Biển Đông) bỗng biến thành “Đường 10 đoạn”. Đó là trò gì vậy? Hiện nay Đường 9 đoạn còn đang bị cộng đồng quốc tế tranh cãi, bác bỏ, còn chưa đứng vững được, nay lại vẽ thêm chi tiết thành cái “Đường 10 đoạn” chả ra ngô, chả ra khoai, như thế chỉ tổ cho “Đường 9 đoạn” càng bị quốc tế dè bỉu thêm!” Học giả Lưu Tiểu Tinh viết: “Tôi không biết những người làm cái bản đồ có Đường 10 đoạn ấy nghĩ gì? Hay não họ toàn nước chắc?  Trung Quốc muốn dùng “Đường 9 đoạn” để tranh giành quyền lợi biển ở Nam Hải, thì phải nói rõ cho cả thế giới biết nó rốt cuộc là thứ gì? Căn cứ pháp luật ở đâu? Thế giới yêu cầu, đòi hỏi thế nào cũng không chịu nói, chỉ biết vẽ vời này nọ trên bản đồ thì có tác dụng gì? Thật là một trò cười cho quốc tế!”. Xem: http://dantri.com.vn/the-gioi/nhieu-tieng-noi-phe-phan-ban-do-duong-luoi-bo-cua-trung-quoc-900549.htm

2 Trong ca dao cổ của người Việt đã nhiều câu liên quan đến Biển Đông “Thuận vợ, thuận chồng tát Bể Đông cũng cạn”, “Công cha như núi ngất trời/ Nghĩa mẹ như nước ở ngoài Biển Đông ”, “Trèo lên trái núi Thiên Thai/ Thấy đôi chim phượng ăn ngoài Biển Đông” hay “Dã tràng xe cát Biển Đông/ Nhọc lòng mà chẳng nên công cán gì!”...

3 Sách của Ngô Sĩ Tồn: Nguyên nhân và sự phát triển về tranh chấp Nam Sa (0rigin and development of the Nansha disputer), NXB Hải quân, năm 1999 (Bản dịch của Viện nghiên cứu Trung Quốc, 2009) cũng nói một cách mơ hồ và thiếu trung thực khi tác giả cho rằng “Tuyên bố Cairo” và “Tuyên bố Potsdam” quy định Nhật Bản bắt buộc phải trao trả cho Trung Quốc Đài Loan, Bành Hồ, đương nhiên cũng bao gồm cả quần đảo Nam Sa và Tây Sa. Không thể nói việc trao cho Trung Quốc Đài Loan, Bành Hồ lại suy ra là có cả Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.

4 “Petite Histoire des Paracels,” đăng trong Sud Est Asiatique, Bruxelles, số 19, th. 1/1951, tr. 38.

5 Тегеран – Ялта – Потсдам - Сборник документов, Составители: Ш.П. Санакоев, Б.Л. Цыбулевский, 2-е издание, М.: Издательство «Международные отношения», 1970. http://grachev62.narod.ru/stalin/confer/chapt12.htm.

6 “Đặc biệt, tại Hội nghị San Francisco năm 1951, đề xuất yêu cầu Nhật Bản nhìn nhận chủ quyền của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đối với quần đảo Hoàng Sa đã bị bác bỏ với 46 phiếu chống. Cũng tại hội nghị này, trưởng đoàn Việt Nam, Thủ tướng Trần Văn Hữu đã tái khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa mà không gặp phải bất kì phản đối nào của 51 nước tham dự” (Xem: http://motthegioi.vn/tieu-diem/nam-1898-tq-tuyen-bo-hoang-sa-la-dat-hoang-khong-thuoc-hai-nam-89017.html.

7 Xem: http://plo.vn/Ph%C3%A1p%20lu%E1%BA%ADt%20ch%E1%BB%A7%20nh%E1%BA%ADt/thu-tuong-viet-nam-nam-1951-364680.html.

8 Eveil economique de l’Indochine, no. 741.

9 Và cho đến nay, đối với toàn bộ quần đảo Hoàng Sa và một phần của quần đảo Trường Sa, Trung Quốc đã dùng vũ lực để xâm lược, không có bất cứ biểu hiện nào của việc chiếm giữ một cách hòa bình.

10 Ngô Sỹ Tồn (cb), Lý Tú Lĩnh, Chung Thiên Tường, Tô Yến, Phó Ngọc - Tổng hợp sử liệu các đảo Nam Hải nước ta, NXB Hải Nam, 2001, 378 tr.

11 Ngô Sỹ Tồn - Nguyên nhân và sự phát triển về tranh chấp Nam sa (Origin and development of the Nansha disputer), NXB Hải quân, năm 1999 (Bản dịch của Viện nghiên cứu Trung Quốc - Hà Nội, 2009). Ngô Sĩ Tồn hiện là Viện trưởng Viện Nghiên cứu Nam hải Trung Quốc (là Viện nghiên cứu độc lập, đặt tại Hải Khẩu, Hải Nam, Trung Quốc, chuyên nghiên cứu các lĩnh vực liên quan đến Biển Đông, Trung Quốc gọi là biển Nam Trung Hoa, hay Nam Hải). Năm 1997 tác giả bảo vệ luận án tiến sĩ dưới sự hướng dẫn của GS Mao Gia Kỳ; sự giúp đỡ và khích lệ của Bộ Ngoại giao và các cơ quan hữu quan. Cuốn Nguyên nhân và sự phát triển về tranh chấp Nam sa (0rigin and development of the Nansha disputer), NXB Hải quân, năm 1999 là nội dung của luận án tiến sĩ này. Năm 2005, cuốn sách này được bổ sung, điều chỉnh và sửa chữa, xuất bản thành cuốn “Bàn về tranh chấp ở Nam Sa”, do NXB Nam Hải ấn hành.

12 Thực ra đoạn này tác giả trích dẫn theo Jia Yu trong cuốn “Legal Status of the “Broken Line” in the South China Sea”.

13 Luật lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ban hành ngày 25-2-1992

14 Luật vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa ban hành ngày 26-6-1998.

15 Declaration on Principles of International Law Concerning Friendly Relations and Co-operation among States in Accordance with the Charter of the United Nations, United Nations General Assembly, Resolution 2625 (XXV), 24-10-1970.

16 Definition of Aggression, United Nations General Assembly Resolution 3314 (XXIX). www.un.org/documents/ga/res/29/ares29.htm.

 

 

ABSTRACT

The author presents some opinions against the content of the book named “The Nine-Dash Line in the South China Sea: History, Status and Implication”, which was newly published, by Chinese co-authors Zhiguo Gao and Bing Bing Jia.

Đinh Ngọc Vượng