Bách khoa thư văn học trong Kiến văn tiểu lục

18/12/2017
Lại Văn Hùng – PGS.TS. Ngữ văn, Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam.

Kiến văn tiểu lục được Lê Qúy Đôn biên soạn xong vào “thượng tuần tháng V, năm Đinh Dậu, niên hiệu cảnh Cảnh Hưng” (tức năm 1777). Cùng với Vân đài loại ngữPhủ biên tạp lục, thì Kiến văn tiểu lục cũng được xem như một bộ sách có tính bách khoa thư rất sâu đậm.

Bộ sách gồm 12 quyển như sau:

1. Châm cảnh, triết lý khuyên răn

2. Thể lệ thượng, lễ tục

3. Thể lệ hạ, lễ tục (tiếp)

4. Thiên chương, văn thơ

5. Tài phẩm, tài năng - phẩm cách

6. Phong vực thượng, bờ cõi

7. Phong vực trung, bờ cõi (tiếp)

8. Phong vực hạ, bờ cõi (tiếp)

9. Thiền dật, tu hành - ẩn dật

10. Linh tích, dấu tích linh thiêng

11. Phương thuật

12.Tùng đàm, truyện góp

Quyển 3, quyển 7, quyển 8 và quyển 11 hiện bị thất lạc

Quyển 4 có tên là Thiên chương, thực tế là văn học (cả thư pháp, sử văn, từ lệnh…) tác giả viết về các mục:

- Phép đối trong thể biểu (6 phép đối chữ), lấy ví dụ từ Đằng Vương các so sánh với văn của Thẩm Ước, Thiên Nguyên, Tống Chân Tông.

- Chép danh mục các tác phẩm “kim thạch di văn” (văn khắc ở đồ đồng, bia đá) thời Lý - Trần, gồm 16 tác phẩm.

- Khảo các sách: Tục thuyết phu Thiên Nam hành kỷ (do Tử Minh Thiện đời Minh biên soạn); Nam Ông mộng lục (Hồ Nguyên Trừng), Bình định Nam giao lục (Khâu Tấn nhà Minh biên soạn); Sứ Giao Châu và thơ An Nam tức sự (Trần Cương Trung đời Nguyên biên soạn); Thù vực chu tự lục (Nghiêm Tông Giản nhà Minh biên soạn) và kết luận rằng: “Năm tập sách kể trên, có thể bổ khuyết cho Việt sử”.

- Khảo sách: Lĩnh Nam chích quái nêu những chỗ lầm của sách này, như truyện Việt tỉnh (là lấy từ Nam Hải cổ tích ký do Ngô Lại nhà Nguyên biên soạn); lại khảo Tài quỷ ký (Trương Quân Phòng nhà Tống biên soạn) và Thuyết phu (Đào Tông Nghi nhà Minh biên soạn) để biện bác thêm.

- Khảo Việt điện u linh tập, nhấn mạnh tính chất “xác thực”, xác nhận 2 sách mà Việt điện u linh tập dẫn là Giao Châu ký (Tăng Cổn) và Sử ký (Đỗ Thiện) là “đều không thấy lưu tồn”.

- Khảo An Nam chí (Cao Hùng Trưng), phê nặng việc sách này đề cao Giải Tấn, đưa Trích diễm thi tập cho đám quan lại nhà Thanh (Chu Bội Liên) để làm bằng chứng là từ “triều nhà Trần đã có nhiều văn học thi chương, không phải từ Giải Tấn (thời Minh Thành Tổ), người ta mới biết văn học”. Tác giả còn chép thơ đi sứ của Cương Trung nhà Nguyên làm khi sang nước ta, có những câu thể hiện sự lo sợ trước phong khí Đại Việt:

Bóng lòe gươm sắt, lòng thêm đắng,

Tiếng rộn trống đồng tóc đốm hoa.

(Kim qua ảnh lý đan tâm khổ,

Đồng cổ thanh trung bạch phát sinh)

(Sứ hoàn cảm sự, trong tập Sứ Giao Châu)

lại dẫn thơ của các sứ giả khác, như Phó Nhược Kim, các bài thơ họa của Phạm Sư Mạnh đối đáp với Dư Quý được đánh giá là “trình bày công việc vừa lịch duyệt vừa lão luyện, thổ lộ lời văn vừa cứng cáp, vừa vui tươi, có phần làm mạnh được quốc thể”.

Tiếp đó lại chép các bài: văn tế của Minh Đồ (nhà Minh), các bài tựa (tập Sứ giao kỷ sự của Viên Xán nhà Thanh) do Ngô Hưng Tộ và Lý Sĩ Trinh viết, chép và bình thơ của Đức Bảo và Cố Nhữ Tu (các sứ Trung Quốc sang ta thời Cảnh Hưng, Lê Quý Đôn trực tiếp giao đãi), chép 21 bài thơ của Cao Biền (trong Toàn Đường thi lục), chép thơ Đào Bật thời Tống Nhân Tông (1023 - 1059).

Thơ văn nước ta, Lê Quý Đôn phẩm bình, khảo cứu các tập: Việt âm thi tập, Tinh tuyển thi tập, Trích diễm thi tập, nêu chỗ thiếu sót của 3 tập (không chép bài thơ Phạm Sư Mạnh đề núi Thạch Sơn, dù An Nam chí đã chép (thiếu nửa bài), lần này tác giả chép đầy đủ).

Khảo Thiền uyển tập anh chép các tác phẩm thơ thời Lý của Lý Thái Tông, Lý Nhân Tông, Đoàn Văn Khâm. Khảo Quảng Tây thông chí chép thơ Lê Trắc để bổ sung việc chép khuyết tên tác giả của Việt âm thi tập. Khảo Kiên biều (của Chử Nhân Hoạch đời Thanh) chép thơ Sứ giả nước ta làm thơ về Tây Hồ (Hàng Châu) và truyền kỳ về Lê Quý Ly được vua Trần gả công chúa. Khảo Truyền kì mạn lục chép 2 bài thơ của Phù phu nhân Nguyễn Hạ Huệ. Khảo chép, phẩm bình bài Tựa Trích diễm thi tập của Hoàng Đức Lương. Từ đó mà khảo ra các sách: Đoán sách (Pháp Loa), Ngọc tiên (Huyền Quang), Tiết trai (Lê Thiếu Dĩnh), Tiên sơn (Nguyễn Vĩnh Tích), Chi hài tập (Phùng Thạc), Kiên biều tập (Doãn Hành), Tống Khê tập (Vương Sư Bá), Phục Hiên tập (Trần Khản), Tố cầm tập (Vũ Quỳnh), Cưu đài tập (Nguyễn Húc).

Rồi các tập từ lúc “bản triều trung hưng”: Sứ hoa thủ trạch tập (Phùng Khắc Khoan), Chúc Trai tập (Đặng Đình Tướng), Hoa trình thi tập (Nguyễn Quý Đức, Nguyễn Đình Sách), Sứ hoa tập (Lê Anh Tuấn, Nguyễn Công Cơ), Tinh sà tập (Nguyễn Công Hãng), Sứ trình tập (Phạm Khiêm Ích), Hoàng hoa nhã vịnh (Ngô Đình Thạc), Hiệu tần tập (Lê Hữu Kiều), Sứ hoa tùng vịnh (Nguyễn Tông Quai).

Lại đi sâu phân tích Huấn đồng thi tập của Phùng Khắc Khoan, dẫn trích lại sách này những lời bàn của người đi trước về phép tắc, thể cách sáng tác thơ ca. Tập Tàng chuyết của Mai Doãn Thường với lời đề tựa của Lê Hữu Kiều cũng được dẫn trích, luận bàn.

Sưu tập và bình phẩm về thơ thời Hồng Đức, những tác phẩm khắc đá đề từ ở núi Kính Chủ của Lê Quyền, ở núi Dục Thúy của Trương Hán Siêu, ở động Thanh Hư của Nguyễn Phi Khanh. Lại quay về khảo tác phẩm Bạch vân chiếu xuân hải của Khương Công Phụ chép trong Uyên giám. Rồi Lê Thánh Tông với bài phú Lam Sơn Lương thủy. Rồi xét thể phú thời Trần với 13 tác phẩm “còn sót lại” được chép trong Quần hiền phú tập: 1 - Bài phú Thang bàn (Khuyết danh); 2 - Bài phú Đổng Hồ bút (Khuyết danh); 3 - Bài phú Quan chu nhạc (Nguyễn Nhữ Bật); 4 - Bài phú Bàn khê điếu hoàng (Trần Công Cận); 5 - Bài phú Trảm xà kiếm (Sử Hy Nhan); 6 - Bài phú Cần Chính lâu (Nguyễn Pháp); 7 - Bài phú Thiên thu kim giám (Nguyễn Kính Khê); 8 - Bài phú Ngọc tỉnh liên (Mạc Đĩnh Chi); 9 -  Bài phú Bạch Đằng giang (Trương Hán Siêu); 10 - Bài phú Thiên Hưng trấn (Nguyễn Bá Thông); 11 - Bài phú Cảnh tinh (Đào Sư Tích); và 12,13 là Bài phú Diệp mã nhi của hai tác giả Nguyễn Phi Khanh và Đoàn Xuân Lôi.

Lê Quý Đôn xem Kiên biều dư tập của Chủ Giá Hiên (Chử Học Giá hay Chử Nhân Hoạch), ghi lại lời nhận xét của sách này về nước ta, trong đó có những phẩm bàn về thơ văn: “Nước An Nam xa cách Trung Quốc hàng mấy ngàn dặm, tuy đứng về danh nghĩa thì theo giáo hóa Trung Quốc, nhưng thực ra thì họ tự làm chủ một nước, đặt niên hiệu, dựng phép tắc, trong nước chia làm nhiều đạo, giống như các tỉnh phiên trấn của Trung Quốc vậy. Trong các đạo có một đạo là An Bang, xem quyển Hương thí lục của đạo này đề là khoa thi Tân Mão năm Hồng Đức thứ 2 (1471), thì thấy: trường thứ nhất thi bốn bài kinh nghĩa về tứ thư, năm bài kinh nghĩa về ngũ kinh; trường nhì thi chiếu, chế và biểu, mỗi môn một bài; trường ba thi thơ và phú, mỗi môn một bài; trường bốn thi một bài văn sách trường thiên. Phép tắc thi lấy nhân tài lại có phần tường tận hơn Trung Quốc. Những liên cú trong bài biểu, bài phú có rất nhiều câu hay”.

Nói về Quốc triều biểu chương tập của Trần Văn Mô, nhận xét về thể văn tứ, lục triều Trần qua 7 tác phẩm: 1 - Bài biểu tạ ơn về việc ban cho mũ sam hàng Đại liêu ban (Mạc Đĩnh Chi); 2 - Bài biểu tạ ơn về việc ban cho nghiên lục kim (Lê Bá Quát); 3 - Bài biểu tạ ơn về việc được thăng Hàn lâm viện Trực học sĩ (Trương Hán Siêu); 4 - Bài biểu tạ ơn Trung Quốc ban cho Đại quang minh tạng (Khuyết danh); 5 - Bài biểu tạ ơn nương cơ hạ giá (Khuyết danh); 6 - Nghĩ soạn biểu về việc Tô Thức tạ ơn vua ban cho mực song tính (Khuyết danh); và 7 - Bài biểu tạ ơn về việc cho phép tể thần xem nhã nhạc (Lê Khán, triều Hồ); để đi đến nhận xét các thể tạ từ, biểu chương thời Trần.

Lê Quý Đôn lại chép lời hai khúc nhạc hát cử lễ khi vua ngự đại triều hội, gọi là khúc “văn quang” và khi vua trở về cung - thời quốc sơ, tức là đầu triều Lê.

Nói về thơ của sứ thần Lưu Cầu (Nhật Bản), cuộc tiếp xúc với các sứ thần nước này (1760).

Nói về lược sử Triều Tiên và cuộc giao tiếp với các sứ thần Triều Tiên trích lục các thư từ trao đổi, các lời tiểu dẫn thơ họa - đáp (có thể coi như những bình phẩm thơ văn của người nước ngoài rất sớm về thơ văn nước ta).

Nói về lược sử trấn Hà Tiên cùng với tên tuổi Mạc Thiên Tứ, chép đầu đề các bản khắc ván Hà Tiên thập vịnh, chép và bình bài đề thứ 9 “Lộc trị thôn cư” và bài đề thứ 10 “Lư Khê ngư bạc”, chép bài tựa cho cả tập (năm 1737), và các bài họa của Vương Sưởng, Đơn Bỉnh Ngự, Nguyễn Nghi, Lý Nhân Trường; lại nói có đến 120 người họa tất cả, trong đó có 25 người Trung Quốc.

Nói về văn sĩ Thuận Hóa: Nguyễn Cư Trinh, Nguyễn Đăng Thịnh, Nguyễn Quang Tiền, Nguyễn Thế Lân “thơ văn phần nhiều đáng được để ý, tôi đã chép sơ lược ở cuốn Phủ biên lục”. Chép thơ Nguyễn Cư Trinh họa thơ Mạc Thiên Tứ. Lại kể 88 bài họa của 32 người bài đề “Thụ Đức hiên tứ cảnh” (Cảnh bốn mùa quanh hiên Thụ Đức) của Mạc Thiên tứ.

Rồi thư từ giao tiếp nói về nhân, nghĩa, lợi giữa Xiêm La với Hiểu Quốc công Nguyễn Phúc Khoát (1755).

Rồi các câu đối trên đường đi sứ của Lê Quý Đôn.

Như vậy, ở quyển Thiên chương, soạn về văn học nước nhà từ thời Lý - Trần đến “đương đại” thời Lê Quý Đôn sống, tác giả nói đến các bài mục mà nếu có thể xếp theo chủ đề và mục từ sẽ là:

- Thiên chương

- Phép đối trong văn thể Trung Quốc

+ Đối trong Đằng Vương các

+ Đối trong văn Thẩm Ước

+ Đối trong chiếu của Thiên Nguyên

+ Đối trong thơ Tống Chân Tông

- Phép đối và biền ngẫu trong văn thể Việt Nam

+ Trong văn khắc thời Lý - Trần

- Các tác phẩm văn học (gắn với các tác giả):

+ Tục thuyết phu Thiên Nam hành kỷ

+ Nam Ông mộng lục

+ Bình định Nam giao lục

+ Thù vực chu tự lục

+ Lĩnh Nam chích quái

+ Nam Hải cổ tích ký

+ Tài quỷ ký

+ Thuyết phu

+ Việt điện u linh tập

+ Giao Châu ký

+ Sử ký

+ An Nam ký

+ Trích diễm thi tập

+ Sứ Giao Châu

+ Thanh giang

+ Thơ đề, họa đáp của Phạm Sư Mạnh

+ Thơ văn sứ thần, quan chức nhà Thanh

+ Toàn Đường thi lục

+ Việt âm thi tập

+ Tinh tuyển thi tập

+ Thiền uyển tập anh

+ Quảng Tây thông chí

+ Kiên biều

+ Truyền kỳ mạn lục

+ Mai trang

+ Đoán sách

+ Ngọc tiên

+ Tiết trai

+ Tiên sơn

+ Chi hài tập

+ Vân biều tập

+ Tống Khê tập

+ Phục hiên tập

+ Tố cầm tập

+ Cưu đài tập

+ Sứ hoa thủ trạch tập

+ Chúc Trai tập

+ Hoa trình thi tập

+ Sứ hoa tập

+ Tinh sà tập

+ Hoàng hoa nhã vịnh

+ Hiệu tần tập

+ Sứ hoa tùng vịnh

+ Huấn đồng thi tập

+ Tàng chuyết

+ Thơ văn thời Hồng Đức (Lê Hoằng Dục, Lê Niệm, Lê Quyền)

+ Linh Tế tháp ký (của Trương Hán Siêu)

+ Thanh Hư động ký (của Nguyễn Phi Khanh)

+ Bạch vân chiếu xuân hải phú (của Khương Công Phụ)

+ Lam Sơn Lương thủy phú (của Lê Thánh Tông)

+ Quần hiền phú tập (của Hoàng Sằn Phu)

+ Kiên biều dư tập

+ Hương thí lục

+ Quốc triều biểu chương tập

+ Thơ văn ngoại giao với Nhật Bản

+ Thơ văn ngoại giao với Triều Tiên

+ Thơ văn ngoại giao với Trung Quốc

+ Quần thư khảo biện

+ Thánh mô hiền phạm lục

+ Tiêu Tương bách vịnh thi

+ Thơ văn Hà Tiên và Mạc Thiên Tứ

+ Phủ biên lục

+ Văn sĩ Thuận Hóa

+ Nguyễn Cư Trinh

+ Thơ văn ngoại giao với Xiêm La

+ Đối liên (chép trên hành trình sứ bộ sang Trung Quốc)

Nhìn chung, toàn bộ phần “Thiên chương”, có thể xem như là “bách khoa thư” về văn học. Qua cách làm của Lê Quý Đôn, ta có thể rút ra mấy kết luận như sau:

Thứ nhất, đây có thể xem như phần kết về “bách khoa thư Văn học”, một lịch trình, hay có thể gọi là một bộ sưu tập từ Vân đài loại ngữ, qua Phủ biên tạp lục. Trong phần này, khi viết về Nguyễn Cư Trinh và “văn sĩ Thuận Hóa”, Lê Quý Đôn đã lưu ý rằng, phải tham khảo Phủ biên lục (tên đầy đủ là Phủ biên tạp lục). Do vậy, muốn hiểu nội dung trong tính chỉnh thể của “bách khoa thư Văn học” do Lê Quý Đôn biên soạn, ta rất cần hiểu cả 3 tác phẩm trên và đặt chúng theo một hệ thống.

Thứ hai, Lê Quý Đôn từ rất sớm đã kể tên đến tác giả Khương Công Phụ - người nước ta thi đỗ rồi làm quan thời nhà Đường. Như thế, văn học sử của ta, tính đến thời Lê Quý Đôn đã có 1000 năm hình thành và phát triển.

Thứ ba, hầu như tính cả các chủ đề lớn đều được nói đến trong Thiên chương, như là: tác giả văn học, tác phẩm văn học, nhóm phái văn học, tổ chức văn học, văn học nước ngoài, thể loại văn học, và nhất là những trang viết về quan niệm văn học (mà nay ta gọi là lý luận văn học).

Cuối cùng, không thể nói rằng cách làm của Lê Quý Đôn không có những khiếm khuyết. Song đây là công trình của một người và những khiếm khuyết là thuộc về nhận thức và những hạn chế mang tính lịch sử. Chúng ta cần ghi nhận công lao đóng góp vô cùng lớn lao của nhà học giả, để từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm bổ ích.

 

  

 

ABSTRACT

“Kiến văn tiểu lục” was a work by Lê Quý Đôn written in 1777 consisting of 12 volumes. Regarding this work as an ancient encyclopedia, the paper aims to analyze its content value. The writer provides 3 conclusions from this research. The study helps to examine its content and form, particularly to supply a reference in compiling a Vietnamese literature encyclopedia.

 

Tạp chí Từ điển học & Bách khoa thư, số 6 (32) 2014