Địa danh hành chính Thăng Long – Hà Nội thế kỷ 19

12/12/2017
Nguyễn Thị Việt Thanh – PGS. TS Ngữ văn, Viện Việt Nam học & Khoa học phát triển - ĐHQG HN; Email: thanhntv@vnu.edu.vn.

1. Bối cảnh lịch sử

Sau khi thống nhất đất nước, thiết lập quyền thống trị của vương triều trong toàn quốc, năm 1802, vua Gia Long (triều Nguyễn) đã tiến hành một số thay đổi rất quan trọng về mặt hành chính. Phú Xuân (Huế) được lấy làm kinh đô. Một số tỉnh nằm kề Phú Xuân cả hai phía bắc và nam nằm dưới sự cai quản trực tiếp của triều đình, gọi là ”trực doanh”, một số tỉnh không quá xa kinh đô như  Nghệ An, Thanh Hóa (phía bắc), Quảng Nghĩa, Bình Định, Bình Hòa (phía nam) gọi là ”cơ trấn”, đặt dưới sự quản lý gián tiếp của triều đình. Ở hai đầu đất nước, triều Nguyễn đặt cấp thành là Bắc Thành và Gia Định Thành. Bắc Thành có 11 trấn, trong đó phủ Phụng Thiên - phần thị thành kề cận kinh thành Thăng Long - phần gốc lõi của vùng Kẻ Chợ, là đơn vị độc lập trực thuộc Bắc Thành và là trung tâm quyền lực của cả trấn trong 30 năm đầu thế kỷ 19. Phủ Phụng Thiên được đổi tên thành phủ Hòai Đức năm 1804, gồm 2 huyện là Thọ Xương  (壽昌) và Vĩnh Thuận (永順).

Năm 1831-1832, Minh Mệnh tiến hành cải cách hành chính quy mô lớn trên phạm vi toàn quốc. Đầu tiên, Minh Mệnh tiến hành từ Quảng Trị trở ra Bắc, chia thành 18 tỉnh, trong đó tên gọi Hà Nội lần đầu tiên xuất hiện với vai trò là một tỉnh hành chính, thay vì tên Thăng Long vốn tồn tại từ nhiều thế kỷ trước. Từ đây những yếu tố chính trị đặc thù của thủ phủ một trọng trấn cũng kết thúc. Địa giới Hà Nội dưới thời Minh Mệnh rất rộng, bao gồm 4 phủ Hoài Đức, Thường Tín, Ứng Hòa, Lý Nhân và 15 huyện, tương ứng với Hà Nội hiện nay (trừ Gia Lâm, Sóc Sơn, Đông Anh) và một phần tỉnh Hà Nam. Mặc dù địa giới được mở rộng ra rất nhiều nhưng vùng trung tâm của tỉnh Hà Nội thời Nguyễn vẫn tương ứng với khu vực Thăng Long truyền thống, tức là trên phạm vi hai huyện Thọ Xương, Vĩnh Thuận, gần tương ứng hoàn toàn với 4 quận nội thành: Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Đống Đa, Ba Đình ngày nay.

Hiện nay còn lưu giữ nhiều danh mục có thống kê tên gọi các đơn vị hành chính, đặc biệt là khu vực từ Hà Tĩnh trở ra Bắc, tiêu biểu là Các tổng trấn xã danh bị lãm (1810-1813), Bắc Thành địa dư chí lục (1818-1820), Địa bạ cổ Hà Nội (1837), Hà Nội địa bạ (1866), Đồng Khánh địa dư chí (1885-1888).... Nhiều tư liệu trên đã được chuyển dịch từ tiếng Hán hoặc tiếng Nôm ra tiếng Việt hiện đại. Những tư liệu trên cho phép nghiên cứu hệ thống địa danh các đơn vị hành chính Hà Nội từ góc độ ngôn ngữ học, thông qua đó góp phần tìm hiểu những đặc điểm về lịch sử, văn hóa, địa lý... Hà Nội mà địa danh vốn được coi là những ”phiến đá” ghi lại một cách khách quan, trung thực.

2.  Bức tranh chung về địa danh hành chính Hà Nội thế kỷ 19

Khác với các loại địa danh khác, địa danh hành chính là tên gọi các đơn vị hành chính được nhà nước hoặc các cấp chính quyền quy định chính thức chứ không phải được hình thành tự do. Một số đơn vị hành chính cấp cơ sở như thôn, phường bên cạnh tên gọi chính thức có thể còn có tên Nôm do nhân dân tự đặt, gọi lâu thành quen, song chính quyền quản lý các đơn vị hành chính bằng hệ thống các tên gọi chính thức.

 Bức tranh về hệ thống địa danh hành chính Thăng Long - Hà Nội thế kỷ 19 có thể được chia làm 3 giai đoạn quan trọng. Mỗi giai đoạn có những đặc điểm riêng cả về số lượng lẫn đặc điểm cấu tạo.

Giai đoạn thứ nhất: từ năm 1802-1831 (giai đoạn vua Gia Long). Giai đoạn này huyện Thọ Xương gồm 8 tổng là Tả Túc (左肅), Hữu Túc (右肅), Tiền Túc (前肅), Hậu Túc (後肅), Tả Nghiêm (左嚴), Hữu Nghiêm(右嚴), Hậu Nghiêm (後嚴), Tiền Nghiêm(前嚴), gồm 193 phường, thôn, trại; huyện Vĩnh Thuận gồm 5 tổng là Thượng (), Nội (), Hạ (), Trung () và Yên Thành (安城), gồm 56 xã, thôn, phường, trại. Tất cả gồm 249 đơn vị phường, thôn trại. 

Giai đoạn thứ hai: từ năm 1831-1887, được đánh dấu bằng những cải cách quan trọng của vua Minh Mệnh năm 1831, sáp nhập nhiều đơn vị hành chính cấp cơ sở lại với nhau, giảm số lượng đầu mối cấp cơ sở từ 249 xuống còn 159 đơn vị. Địa danh của nhiều đơn vị hành chính cũng có sự thay đổi đáng kể. Tất cả 8 tổng của huyện Thọ Xương đều thay đổi tên gọi, thành tổng Vĩnh Xương (永昌), Kim Liên (金蓮), Yên Hòa (安和), Thanh Nhàn (清閒), Phúc Lâm (福林), Thuận Mỹ (順美), Đồng Xuân (同春), Đông Thọ (東壽). Sau năm 1866 số lượng đơn vị hành chính cơ sở giảm tiếp 3 đơn vị, còn lại 156.

Giai đoạn thứ ba: Từ năm 1888, sau khi toàn quyền Đông Dương phê chuẩn đạo dụ của vua Đồng Khánh nhằm biến Hà Nội trở thành thủ phủ của Pháp tại Đông Dương, Hà Nội có những bước chuyển mới trên nhiều phương diện như hoạch định đô thị, xây dựng cơ sở hạ tầng, thiết lập bộ máy hành chính theo mô hình đô thị hiện đại, trong đó có việc quy hoạch thành phố theo kiểu phương Tây, xuất hiện các phố thay vì các thôn, phường, xã của giai đoạn trước.

 

Huyện

Các tổng trấn xã danh bị lãm (1810-1813)

Địa bạ cổ Hà Nội

(1837)

Hà Nội địa bạ

(1866)

Tổng

Số đơn vị cơ sở

Tổng

Số đơn vị cơ sở

Tổng

Số đơn vị cơ sở

Thọ Xương

Tiền Nghiêm

29

Vĩnh Xương

16

Vĩnh Xương

15

Tả Nghiêm

23

Kim Liên

15

Kim Liên

15

Hữu Nghiêm

27

Yên Hòa

11

Yên Hòa

11

Hậu Nghiêm

20

Thanh Nhàn

8

Thanh Nhàn

8

Tả Túc

29

Phúc Lâm

18

Phúc Lâm

18

Tiền Túc

29

Thuận Mỹ

22

Thuận Mỹ

22

Hậu Túc

17

Đồng Xuân

14

Đồng Xuân

14

Hữu Túc

18

Đông Thọ

13

Đông Thọ

13

Vĩnh Thuận

Thượng

7

Thượng

7

Thượng

7

Trung

6

Trung

7

Trung

6

Nội

10

Nội

10

Nội

9

Hạ

7

Hạ

6

Hạ

6

Yên Thành

26

Yên Thành

12

Yên Thành

12

Tổng

13 (tổng)

249

13 (tổng)

159

13 (tổng)

156

 

3.  Yếu tố chỉ loại trong kết cấu phức thể địa danh

Kết cấu định danh phổ biến của các địa danh của Hà Nội giai đoạn này là kết cấu hai thành phần: phần chỉ loại đơn vị hành chính và phần định danh, ví dụ huyện Thọ Xương, tổng Tả Túc, thôn Tiên thị...

Phần đơn vị chỉ loại tương đối đơn giản, tương ứng với các cấp hành chính do chính quyền quy định trong giai đoạn này. Tư liệu cho thấy trong các địa danh từ năm 1802 đến 1831, yếu tố chỉ loại chỉ gồm 6 từ phân bố theo các cấp hành chính lần lượt là: Phủ (府)à Huyện (縣)à Tổng (總) à Phường(坊)/Thôn(村)/Trại (寨) (đơn vị hành chính cơ sở). Trong đó huyện Thọ Xương gồm 20 phường, 171 thôn, 1 trại; huyện Vĩnh Thuận gồm 27 phường, 16 thôn, 13  trại. Các đơn vị hành chính cấp cơ sở của 2 huyện Thọ Xương, Vĩnh Thuận từ sau thời điểm năm 1831 chiếm tuyệt đại đa số vẫn là thôn (117đơn vị, chiếm 75%). Sau thôn là Phường (26 đơn vị, chiếm 16,7%), Trại (12 đơn vị, chiếm 7,7%).  Có điều cần lưu ý rằng trong suốt chiều dài lịch sử của Thăng Long, phường vẫn được coi là đơn vị hành chính đặc thù. Như nhiều nghiên cứu đã chỉ ra, nếu xét thuần tuý về mặt nghề nghiệp của cộng đồng cư dân thì Thăng Long có khá nhiều phường chuyên nghề thủ công, cũng có phường chuyên buôn bán, chuyên trồng trọt, đánh cá, tạo thành các tổ chức nghề nghiệp xuất hiện ở Thăng Long từ rất sớm  được gọi chung là “phường”. Nhưng loại phường này không trùng với cấp phường là đơn vị hành chính cấp cơ sở của đô thị Thăng Long - Hà Nội, vốn tương đương với xã ở vùng nông thôn.

Giai đoạn sau 1831 xuất hiện một loại đơn vị hành chính cơ sở nữa được gọi là Xãnhưng chỉ có 1 đơn vị là xã Cơ Xá (機舍), được xây dựng trên cơ sở 6 phường Thủy Cơ (水機) - một khái niệm chỉ các làng chài tập hợp ven sông, tồn tại khá linh hoạt về tổ chức - của tổng Tả Túc. Đó là phường Thủy Cơ Trúc Võng, Thủy Cơ Đông Trạch, Thủy Cơ Vũ Xá, Thủy Cơ Biện Dương, Thủy Cơ Lãng Hồ và Thủy Cơ Tự Nhiên.

Sau năm 1888, bên cạnh các đơn vị trên xuất hiện thêm Châu với ba đơn vị là châu Vạn Ngọc, châu Ngọc Xuyên và châu Tam Đa. Như vậy mặc dù hàng thế kỷ tồn tại với tư cách là kinh thành của đất nước, song thông qua loại hình các đơn vị hành chính giai đoạn thế kỷ 19 có thể thấy chủ trương của triều Nguyễn thực hiện quá trình nông thôn hóa Hà Nội là xu hướng chủ đạo sau khi Hà Nội mất đi vai trò thủ phủ của khu vực Bắc thành.

4. Số lượng âm tiết của các đơn vị địa danh

Số lượng âm tiết của các địa danh Hà Nội thế kỷ 19 là một vấn đề khá thú vị. Giai đoạn 1802-1831, ngoài yếu tố chỉ loại đơn vị hành chính, phần định danh có số lượng âm tiết khá đa dạng, giao động từ 2 âm tiết tới tận 6 hoặc 8 âm tiết. Mặc dù số lượng các địa danh có 2 âm tiết vẫn lớn hơn cả, chiếm 67,87%, trong đó đại đa số là từ Hán Việt (thôn Chân Tiên, phường Phục Cổ...), song các địa danh có số lượng lớn hơn 3 âm tiết cũng chiếm một tỉ lệ đáng kể (13,25%), loại có 4 âm tiết chiếm 7,63%, loại có 5 âm tiết chiếm 10,04 %. Đặc biệt có trường hợp địa danh có 6 âm tiết (thôn Trừng Thanh Trung Cựu Vệ Tả, thôn Tây Luông đồn Bến đá thị...) hoặc có tới 8 âm tiết (thôn Ngoại ô giáp Hương Bài phường Đông Hà). Mặc dù về phương diện ý nghĩa, giá trị mang tính mô tả của địa danh có thể được coi trọng hơn giá trị định danh trong các trường hợp trên, song đây cũng có thể coi là những hiện tượng khá bất thường so với hệ thống địa danh hành chính chung của Việt Nam.

 

  Đơn vị hành chính

 2 ÂT

3 ÂT

4 ÂT

5 ÂT

6 ÂT

8 ÂT

Tổng số

Huyện Thọ Xương

Tổng Tả Túc

6

2

9

9

2

1

29

Tổng Tiền Túc

15

7

3

4

 

 

29

Tổng Hữu Túc

18

 

 

 

 

 

18

Tổng Hậu Túc

13

1

1

2

 

 

17

Tổng Tả Nghiêm

14

5

1

3

 

 

23

Tổng Tiền Nghiêm

21

3

 

6

 

 

30

Tổng Hữu Nghiêm

20

5

1

1

 

 

27

Tổng Hậu Nghiêm

18

1

1

 

 

 

20

Huyện Vĩnh Thuận

Tổng Thượng

7

 

 

 

 

 

7

Tổng Trung

6

 

 

 

 

 

6

Tổng Nội

9

 

1

 

 

 

10

Tổng Hạ

7

 

 

 

 

 

7

Tổng Yên Thành

15

9

2

 

 

 

26

Tổng số

169

33

19

25

2

1

249

                 

 

Tuy vậy, sau năm 1831, là một trong những sản phẩm của công cuộc cải cách hành chính khá sâu rộng của vua Minh Mệnh, một hệ thống địa danh mới được thay thế theo hướng đơn giản hóa, dễ sử dụng, tránh phương thức mô tả nên tuyệt đại đa số các địa danh được cấu tạo bằng hai âm tiết. Các địa danh có số lượng âm tiết lớn có xu hướng thu gọn lại, ví dụ thôn Nam Môn Thị Hoa Ngư được chuyển thành thôn Nam Ngư, hoặc thay thế bằng một tên gọi hoàn toàn khác.

5 Nguồn gốc cấu tạo của bộ phận định danh

Phần định danh là phần trọng tâm của một phức thể địa danh. Tuy vậy, đối với các địa danh hành chính của Hà Nội thế kỷ 19 có thể nhận thấy sự khác biệt tương đối rõ rét đặc trưng cấu tạo địa danh trước và sau năm 1831.

Giai đoạn 1802-1831, các địa danh được chia thành 2 nhóm khá rõ rệt là nhóm sử dụng yếu tố Hán Việt (thôn Mỹ Lộc, thôn Tiên Thị, phường Khánh Thụy…) và nhóm sử dụng yếu tố thuần Việt (thôn Hàng Đàn, thôn Kho Súng, thôn Cầu Cháy...). Mặc dù vậy, tỉ lệ phân bố của hai nhóm này rất khác nhau. Các địa danh cấu tạo từ gốc Hán chiếm ưu thế tuyệt đối, đạt tới 90,20%. Một phần có thể giải thích bằng ảnh hưởng sâu đậm của văn hóa Hán tới triều đình nhà Nguyễn giai đoạn này, thậm chí trong một số phương diện còn mạnh hơn các triều đình trước đây. Ngoài ra một số địa danh sử dụng đồng thời cả yếu tố Hán và Việt như thôn Hữu Biên Giám Hàng Cháo, thôn Yên Hội Hàng Hương.

Các địa danh gốc Việt chỉ chiếm 9,8%. Trong nhóm này, các địa danh bắt đầu bằng chữ ”Hàng...” giữ một tỷ lệ đáng kể: Thôn Hàng Đàn, thôn Hàng Rau, thôn Hàng Bột, thôn Hàng Chài.... Khái niệm 36 phố phường với các phường nghề nghiệp quần tụ tại cùng một khu vực để sinh sống, làm ăn, hỗ trợ nhau trong công việc dường như đã trở thành đặc thù cho Hà Nội truyền thống. Song từ các phường nghề nghiệp này mà trở thành tên gọi của một đơn vị hành chính do nhà cầm quyền quy định không phải là quá dễ dàng. Chỉ có 14 đơn vị hành chính cấp thôn được mang tên chính thức là ”thôn Hàng...”, gắn với những nghề nghiệp mang tính đặc thù của từng vùng. Thôn Hàng Cá là vùng có nhiều hồ, tập hợp nhiều hàng tôm cá. Thôn Hàng Dầu là nơi chuyên bán các loại dầu tra đèn, tra vào xe… Thôn Hàng Bàicó nhiều nhà làm và bán bài lá. Thôn Hàng Bột là một khu vực có nhiều cửa hàng chế biến và bán các loại bột gạo, bột sắn. Sau năm 1831, hầu hết các địa danh gốc Việt đều không còn nữa, hoặc được thay thế bằng từ Hán Việt, hoặc được sáp nhập với các đơn vị hành chính khác mang tên Hán Việt. Như thôn Hàng Chè đổi thành thôn Hương Mính (có nghĩa là chè thơn), thôn Hàng Cá chuyển thành thôn Gia Ngư... Sau năm 1888 khi chuyển từ cơ cấu hành chính thôn phường thành đô thị, một số tên thôn vẫn được duy trì thành tên phố như phố Hàng Dầu, phố Hàng Bài, phố Hàng Bột..., một số địa danh khác hầu như không còn dấu vết trong hệ thống địa danh Hà Nội hiện đại.

Tuy vậy, bên cạnh các địa danh hành chính mang tính chính thức được ghi lại trong các tài liệu, khá nhiều thôn, phường, trại của Thăng Long, đặc biệt ở huyện Vĩnh Thuận, tồn tại song song cùng một lúc hai tên gọi, một tên chữ bằng chữ Hán, một tên Nôm. Đối chiếu giữa tên chữ và tên Nôm nhiều khi cũng có thể tìm thấy tính lý do nào đó. Hoặc đó là quan hệ về nghĩa, như Phường Thạch Khối còn có tên là Hàng Than... hoặc là quan hệ về âm, như phường Quảng Bá còn có tên làng Quảng, phường Hồ Khẩu có tên làng Hồ, phường Trích Sài có tên làng Sài, phường Võng Thị có tên làng Võng... Cũng có khi tên Nôm thể hiện những đặc sản đặc biệt của địa phương, như phường Yên Thái có tên Nôm là làng Bưởi, trại Ngọc Hà còn được gọi là làng Hàng Hoa, phường Nghi Tàm có tên là Làng Dâu... Yếu tố chỉ loại đơn vị hành chính cũng là vấn đề đáng lưu ý. Như trên đã nói, danh mục đơn vị hành chính cơ sở (nhỏ nhất) của triều Nguyễn là thôn, phường, trại. Nhưng khi tên Nôm được sử dụng thì hầu hết lại kết hợp với một đơn vị dường như không được nhà nước công nhận chính thức nhưng lại rất gần gũi với tổ chức dân cư miền Bắc là khái niệm Làng.

6. Đặc điểm ngữ nghĩa của bộ phận định danh

Về nguyên tắc, với tư cách là một ký hiệu ngôn ngữ thực hiện chức năng làm tên gọi cho một địa điểm, tính võ đoán về cơ bản vẫn là đặc tính quan trọng của các địa danh. Đại đa số địa danh, đặc biệt là địa danh hành chính, khi xuất hiện hoặc do cấp chính quyền quy định trên cơ sở cân nhắc tính thuận tiện (gọn gàng, dễ nhớ), tính thẩm mĩ (có ý nghĩa hay) và tính lịch sử, văn hóa của khu vực được đặt tên, hoặc là do thói quen (gọi lâu thành quen) của cộng đồng dân cư.

Từ góc độ ngữ nghĩa, nhà địa danh học Superanskaja chia địa danh làm 5 loại, tương ứng với các phương thức cấu tạo địa danh ý nghĩa là Địa danh ký hiệu, Địa danh mô tả, Địa danh đăng ký, Địa danh thể hiện ước vọng và Địa danh do yếu tố lịch sử. Cách phân loại này về cơ bản được Lê Trung Hoa và Nguyễn Kiên Trường chấp nhận và sử dụng trong các công trình của mình. Địa danh hành chính về nguyên tắc có thể sử dụng tất cả các phương thức cấu tạo trên. Song khi khảo sát hệ thống địa danh hành chính Thăng Long – Hà Nội, chúng tôi nhận thấy tình hình và mức độ sử dụng các phương thức trên rất khác nhau.

6.1  Địa danh ký hiệu. Đây là loại địa danh được cấu tạo theo phương thức hiện đại trên cơ sở đánh số vốn được nhiều quốc gia sử dụng. Song trong hệ thống địa danh hành chính Thăng Long - Hà Nội thế kỷ 19, không có địa danh nào cấu tạo theo phương thức thuần túy mang tính ký hiệu như đánh số bằng số đếm tiếng Việt (một, hai, ba…) hoặc đánh số theo âm Hán (nhất, nhị, tam…), hoặc theo trật tự chữ cái. Do vậy có thể khẳng định phương thức này không được sử dụng trong hệ thống địa danh này.

6.2   Địa danh mang tính đăng ký. Khi đối chiếu với hệ thống địa danh hành chính Thăng Long – Hà Nội cũng có thể tìm thấy không ít địa danh ”không lý do”, tức là không thể tìm hoặc giải thích tại sao mang tên đó, như như các địa danh Trừng Thanh, Nguyên Khiết,...và rất nhiều địa danh khác. Tuy vậy, có thể từ góc độ thời điểm khảo sát, các địa danh trên chỉ có giá trị làm tên gọi cho một khu vực, nhưng không loại trừ khả năng vào thời điểm xuất hiện, những người đặt tên phải dựa trên những cơ sở hoặc tiêu chí nhất định để đảm bảo có một tên gọi có ý nghĩa nào đó mà người đời sau chưa hiểu được.

Cũng thuộc phương thức đăng ký là hiện tượng sử dụng tên người (nhân vật lịch sử, văn hóa, khoa học... nổi tiếng) làm tên gọi cho một địa điểm hoặc khu vực nào đó. Đây vốn là phương thức phổ biến ở nhiều nước và đặc biệt được sử dụng nhiều thời hiện tại, tuy vậy tuyệt đối không thấy trong hệ thống địa danh hành chính thế kỷ 19. Quan niệm về húy và ý thức kị húy ở Việt Nam có từ triều Trần, Lê đến triều Nguyễn dưới ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa là nguyên nhân chính khiến không có một vị vua chúa hoặc danh nhân nào được dùng tên làm tên gọi cho bất kỳ một địa danh nào. Mỗi triều vua ban bố một danh sách các từ phải kiêng kị vốn là tên của vua, hàng hậu, cha mẹ vua buộc tất cả mọi người phải tránh, đặc biệt trong văn bản. Trong lớp địa danh của Thăng Long – Hà Nội đã thấy không ít trường hợp một địa danh vốn tồn tại từ trước song buộc phải chuyển sang tên gọi khác khi trùng với húy. Thôn Xuân Hoa phải đổi thành thôn Xuân Yênthôn Nam Hoa đổi thành Nam Phố do trùng với húy mẹ vua là bà Hồ Thị Hoa. Phường Hồng Mai phải đổi thành Bạch Mai do trùng với húy vua Tự Đức. Thôn Tây Long phải đọc chệch là Tây Luông để tránh húy vua Gia Long... Khảo sát quá trình biến đổi địa danh hành chính của riêng Thăng Long – Hà Nội từ năm 1802 tới năm 1887, có tới 16 trường hợp địa danh phải thay đổi do trùng với húy bị triều đình cấm sử dụng.

6.3   Địa danh thể hiện ước vọng

Với ưu thế sử dụng yếu tố Hán Việt cấu tạo địa danh, việc thông qua tên gọi thể hiện tình cảm, mong muốn, ước vọng của nhà cầm quyền và của nhân dân về những điều tốt đẹp của cuộc đời là hết sức phổ biến. Có thể chia thành một số nhóm nhỏ:

- Những địa danh phản ánh mong muốn có cuộc sống giàu có, no ấm, yên bình. Những yếu tố như Yên (An), Thái, Lương, Thịnh, Phú, Phúc... chiếm số lượng rất lớn trong các địa danh: như Yên Phú, Vĩnh Thái, An Thái, Đồng Lạc, Phúc Lâm, Yên Thọ, Đại Yên, Vạn Bảo...

+ Những địa danh phản ánh ước mơ về phẩm chất, tính cách, tài năng mà con người mong phấn đấu vươn tới. Những yếu tố Trung, Nghĩa, Kính, Đức, Thuận, Hòa...cũng thường xuyên xuất hiện. Ví dụ: Trung Nghĩa, Thịnh Đức, Đồng Thuận, Tương Thuận, Trung Kính..

+ Những địa danh biểu hiện thái độ cảm tạ đối với ân huệ của trời đất đem lại may mắn cho con người… Ví dụ như Bái Ân, Linh Quang, Linh Động, Phúc Linh, Chân Tiên...

6.4  Địa danh mô tả là địa danh dựa trên dấu hiệu điển hình của đối tượng để định danh. Có thể nói đây là nhóm địa danh có tính đặc biệt, độc đáo nhất của hệ thống địa danh hành chính Thăng Long – Hà Nội giai đoạn 1802-1831. Sự độc đáo không chỉ thể hiện về phương diện số lượng mà còn thể hiện qua phương thức mô tả của địa danh. Qua khảo sát, chúng tôi thấy một số phương thức mô tả cơ bản sau:

- Thứ nhất là sử dụng các yếu tố chỉ phương hướng hoặc vị trí làm yếu tố mô tả, khu biệt với các địa danh khác:

Có thể thấy đặc trưng này ngay từ việc cấu tạo địa danh của các tổng giai đoạn trước năm 1831. Huyện Thọ Xương gồm 8 tổng, với tên gọi thuần túy được chia thành hai nhóm, gọi là  4 Túc và 4 Nghiêm. Lần lượt hai yếu tố Túc và Nghiêm kết hợp với 4 yếu tố biểu thị phương hướng: Tiền, Hậu, Tả, Hữu tạo thành các đơn vị định danh: Tả Túc, Hữu Túc, Tiền Túc, Hậu Túc, Tả Nghiêm, Hữu Nghiêm, Hậu Nghiêm, Tiền Nghiêm. Cho tới nay vẫn chưa tìm thấy một bản đồ chi tiết của Hà Nội giai đoạn này, song trên trên cơ sở bản đồ mang tính ước lệ của Lê Công Tiến và Nguyễn Đức Lộc về Hà Nội năm 1831 có thể hình dung phần nào tư duy không gian của các nhà quản lý khi quyết định đặt tên từng tổng. Cùng phân bố trải rộng ở vị trí phía đông, đông nam và nam Hoàng Thành, song tổng Tiền Nghiêm gần Hoàng Thành (phía Bắc) hơn, đối xứng với Hậu Nghiêm qua một trục ngang (hướng Đông – Tây), còn tổng Tả Nghiêm đối xứng với Hữu Nghiêm qua trục dọc (hướng Bắc – Nam) mang tính tượng trưng về không gian.

Có thể nói việc sử dụng yếu tố biểu thị phương hướng là một phương thức rất phổ biến trong cấu tạo địa danh của các đơn vị hành chính cơ sở (trong từng tổng) giai đoạn này, tạo thành yếu tố khu biệt cơ bản của những khu vực vốn được tách ra từ một vùng. Như thôn Tả Bà Ngô, thôn Hữu Bà Ngô (tổng Hữu Nghiêm); thôn Hữu Giám, thôn Hậu Giám (tổng Hữu Nghiêm), thôn Khánh Thụy Tả, thôn Khánh Thụy Hữu (tổng Tiền Túc)...

Cùng với các yếu tố có giá trị biểu thị phương hướng, việc sử dụng các yếu tố chỉ vị trí (thượng, trung, hạ, nội ngoại) - một phương thức định danh khá phổ biến của khu vực đồng bằng Bắc bộ, cũng thấy xuất hiện nhiều trong hệ thống địa danh hành chính Thăng Long - Hà Nội. Tên của các tổng của huyện Vĩnh Thuận được cấu tạo chỉ bằng 1 âm tiết: tổng Thượng, tổng Trung, tổng Hạ, tổng Nội (ngoài ra còn một tổng là Yên Thành). Có lẽ khi đặt các địa danh trên, nhà cầm quyền đương thời cũng phải dựa trên tư duy không gian mang tính ước lệ nhất định, lựa chọn một yếu tố hoặc một địa điểm nào đó làm gốc, từ đó mới xác định đâu là trên, là dưới, là ngoài, là trong trên một tọa độ phẳng được. Các yếu tố chỉ vị trí thường xuyên xuất hiện tại các địa danh cấp thôn, phường tạo thành các yếu tố có giá trị khu biệt. Tuy vậy, mặc dù đây đều là các yếu tố gốc Hán, song khi kết hợp trong các tổ hợp địa danh đa phần các trường hợp sử dụng trật tự tiếng Việt (Thôn Kim Bát Hạ / Thôn Kim Bát Thượng. Thôn Nguyên Khiết Thượng / Thôn Nguyên Khiết Hạ. Thôn Báo Thiên thượng / Thôn Báo Thiên thượng hạ ...).

Việc kết hợp cùng lúc cả yếu tố chỉ phương hướng và chỉ vị trí trong cùng một địa danh cũng là một hiện tượng thường gặp. Ví dụ cùng nằm trên khu vực đất có tên Trừng Thanh - một phường có từ thời Lê, có tới 10 thôn mới được lập với yếu tố Trừng Thanh, trong đó 5 thôn được khu biệt bằng yếu tố trên: thôn Trừng Thanh Hạ Tả, thôn Trừng Thanh Hạ Hữu, thôn Trừng Thanh Thượng, thôn Trừng Thanh Hạ Thượng, thôn Trừng Thanh Trung.

  • Thứ hai là nhóm các địa danh gắn liền với những đặc điểm có tính tiêu biểu của khu vực để nhận diện. Có thể dẫn một số ví dụ:

            Thôn Kho Súng: Đặt trên vùng đất tòa miếu thờ 3 khẩu thần công thời Lê (khu vực phố Đinh Lễ, Lê Thạch ngày nay)

Thôn Khâm Thiên: Nơi có Khâm Thiên Giám là loại cơ quan thiên văn và làm lịch của triều đình từ thời Lê. Khi kinh đô triều Nguyễn chuyển vào Huế, Khâm Thiên Giám cũng đã chuyển theo, song tên Khâm Thiên vẫn được sử dụng để làm địa danh của thôn, cuối thế kỷ được dùng làm tên phố.

Thôn Cầu Cháy: Đây là khu vực có Cầu Đông bắc qua sông Tô Lịch, xung quanh nhiều nhà cửa sầm uất và nhiều lần bị cháy nên vùng xung quanh gọi là vùng Cầu Cháy (khoảng ở vị trí ngõ Gạch ngày nay).

Thôn Huyền Thiên: Là một thôn có từ thời Lê, dựng tại khu vực có quán Huyền Thiên (Huyền Thiên cổ quán) là nơi tu luyện của các môn đồ đạo lão từ thế kỷ 16 (khoảng ở vị trí phố Hàng Khoai, Đồng Xuân  ngày nay).

Thôn Khánh Thụy: Là tên một cung điện của nhà Lê ở gần hồ Hoàn Kiếm.

Rất nhiều địa danh thôn, phường trùng với địa danh của các chùa, đình nổi tiếng tọa lạc ở đó. Đây là hiện tượng rất phổ biến ở nhiều vùng của Việt Nam. Đối với Thăng Long – Hà Nội cũng có thể dẫn ra rất nhiều trường hợp như vậy. Phường Bái Ân ở khu vực có chùa Bái Ân nổi tiếng. Tên thôn Huy Văn ở đó có chùa Huy Văn, nơi thờ vua Lê Thánh Tông và mẹ là bà Quang Thục Hoàng Thái Hậu...

6.5  Địa danh mang yếu tố lịch sử

Thăng Long thế kỷ 19 khởi đầu được đánh dấu bằng việc đổi tên từ Thăng Long 昇龍  (có nghĩa là Rồng bay) thành Thăng Long 升隆(có nghĩa là Thịnh vượng) vào năm 1805. Với những thay đổi cơ cấu quản lý, không ít đơn vị hành chính thời Lê không còn tồn tại ở thế kỷ 19 nữa. Song dấu vết của các đơn vị hành chính này vẫn được hiển ngôn trực tiếp trong kết cấu định danh của các địa danh mới, tạo thành đặc điểm riêng của địa danh thế kỷ 19. Chúng tôi muốn dẫn một trường hợp các địa danh có chữ phường Cổ Vũ (鼓舞) thuộc tổng Tiền Túc làm ví dụ.

Theo các tài liệu cổ thì phường Cổ Vũ là một phường cổ nổi tiếng của Thăng Long, được xây dựng từ thế kỷ 11-14. Vùng đất này khá rộng, đến đời Nguyễn được tách thành các thôn nhỏ và chính thức không còn địa danh nào mang tên Cổ Vũ. Tuy vậy trong các tư liệu địa danh triều Gia Long (1802-1831) tồn tại một loạt địa danh cấp Thôn có sử dụng yếu tố “phường Cổ Vũ”: Thôn Thị Vật Phường Cổ Vũ, thôn Nhân Nội Phường Cổ Vũ, thôn Thượng Phường Cổ Vũ, thôn Trung Phường Cổ Vũ, thôn Trung Hạ Phường Cổ Vũ. Với các địa danh này có thể suy đoán các đơn vị hành chính trên được chia tách từ phường Cổ Vũ cũ (trung tâm là khu vực phố Hàng Bông, Hàng Gai ngày nay). Chính quyền đương thời đã sử dụng các phương thức cấu tạo địa danh phổ biến là khu biệt bằng yếu tố chỉ phương hướng hoặc vị trí để xây dựng các địa danh mới cho các đơn vị hành chính mới, đồng thời vẫn đánh dấu được yếu tố gốc.

Một loạt các trường hợp khác có yếu tố Phường Báo Thiên (報天) (Thôn Thương Môn phường Báo Thiên, thôn Thương Môn Hạ phường Báo Thiên, thôn Thương Đông Hạ phường Báo Thiên), yếu tố Trừng Thanh (澄清) (thôn Trừng Thanh Hạ Tả, thôn Trừng Thanh Hạ Hữu, thôn Trừng Thanh Thượng, thôn Trừng Thanh Hạ Thượng, thôn Trừng Thanh Trung...), yếu tố Giám (監) (thôn Minh Giám, thôn Hữu Giám, thôn Hữu Biên Giám, thôn Hậu Giám, thôn Hữu Biên Giám Hàng Cháo)... cũng có thể có cách giải thích tương tự.

Tuy nhiên, trường hợp nhóm địa danh cùng có yếu tố phường Đông Tác (東作) lại hoàn toàn khác. Trong tư liệu khảo sát có tới 5 địa danh có cùng yếu tố "phường Đông Tác” nhưng lại được phân bố ở 4 tổng khác nhau:

    Thôn Nhiễm Thượng Phường Đông Tác thuộc tổng Hữu Túc

    Thôn Nhiễm Trung Phường Đông Tác thuộc tổng Hậu Túc

    Thôn Nhiễm Hạ Phường Đông Tác thuộc tổng Tả Nghiêm

    Thôn Trung Tự Phường Đông Tác thuộc tổng Tả Nghiêm

    Thôn Cửa Nam Phường Đông Tác thuộc tổng Tiền Nghiêm

Khi tìm hiểu về lịch sử thì được biết Đông Tác nguyên là tên một trong 36 phường hợp thành kinh đô Thăng Long đời Lê. Làng Đông Tác có họ Nguyễn sinh ra Nguyễn Hi Quang từng được phong là đại vương, di cư từ Thanh Hóa ra Thăng Long từ thế kỷ 14, tập trung thành Phường Đông Tác ở khu vực Trung Tự. Thời Lê mạt, dân phường Đông Tác lên phố mở hàng nhuộm (nhiễm), tạo thành các làng nghề. Đến thế kỷ 19, phường Đông Tác không tồn tại với tư cách là một đơn vị hành chính độc lập, song dấu vết vẫn được lưu giữ trong địa danh khi chính quyền lập thôn trên cơ sở khu vực các làng nghề.  Do vậy yếu tố Phường Đông Tác trong các địa danh có giá trị xác định nguồn gốc của dân cư.

Có thể nói mỗi địa danh đều gắn với một sự kiện lịch sử hoặc một ý nghĩa lịch sử nào đó. Thông qua địa danh, người đời sau có thể hình dung phần nào giá trị lịch sử hoặc truyền thuyết gắn liền với những sự kiện lịch sử của vị trí, địa điểm nào đó. Địa danh Thôn Đổi Mã gắn liền có sự tồn tại của Cung mang tên Đổi Mã được xây từ đời Lê, nằm ở phía Nam Thăng Long, vốn dành riêng cho vua Lê thay đổi xiêm áo mỗi lần làm lễ ở đàn tế Nam Giao (vị trí cung còn ở khoảng khu vực chùa Thiên Quang, phố Phùng Khắc Khoan ngày nay). Về địa danh Cấm Chỉ có nhiều cách giải thích. Theo Bùi Thiết (Từ điển địa danh Hà Nội) địa danh này gắn với  truyền thuyết về vua Lê Trung Tông trước khi lên ngôi vốn là người sống phóng túng, vay nợ nhiều, được mệnh danh là Chúa Chổm. Đến khi lên ngôi, do quá nhiều người đến đòi nợ, quân lính phải dựng một đình Ngang (trước Cửa Nam) để chặn bớt, sau gọi là đình Ngang Cấm Chỉ. Địa danh Cấm Chỉ xuất hiện từ đó.

Tìm hiểu hệ thống địa danh của một khu vực, bên cạnh giá trị từ góc độ ngôn ngữ học, còn góp phần tìm hiểu cả những nhân tố văn hóa, lịch sử, địa lý của khu vực đó. Nghiên cứu hệ thống địa danh Thăng Long – Hà Nội, một khu vực có vị trí đặc biệt trong lịch sử phát triển đất nước, là một việc làm tất yếu phải có, trong đó, nghiên cứu hệ thống địa danh hành chính thế kỷ 19 chỉ là một phiến đá nhỏ, nhưng không thể thiếu.   

                                       

  TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Nguyễn Quang Ân (2003). Việt Nam những thay đổi địa danh và địa giới hành chính (1945-2002).

[2] Sở Cuồng Lê Dư (2007). Dấu tích Thăng Long, NXB Lao động, Hà Nội.

[3] Phan Huy Lê (chủ biên) (2010). Địa bạ cổ Hà Nội, 2 tập, NXB Hà Nội, Hà Nội.

[4] Trần Huy Liệu (1960). Lịch sử thủ đô Hà Nội, NXB Sử học, Hà Nội.

[5] Nguyễn Thúy Nga (2010). Địa danh Thăng Long – Hà Nội thời Nguyễn (khảo cứu từ nguồn tư liệu Hán Nôm). NXB Khoa học Xã hội. Hà Nội.

[6] Nguyễn Thúy Nga, Nguyễn Văn Nguyên chủ biên (2007). Địa chí Thăng Long – Hà Nội qua thư tịch Hán Nôm. NXB Thế giới. Hà Nội.

[7] Nguyễn Quang Ngọc (2008) Cấp phường ở Thăng Long - Hà Nội: quá trình hình thành, biến đổi và những nét đặc trưng // Kỷ yếu hội thảo: Quản lý và phát triển Thăng Long – Hà Nội, NXB Hà Nội. Hà Nội.

[8] Nguyễn Vinh Phúc (2010). Địa danh Hà Nội, NXB Hà Nội. Hà Nội.

[9] Ngô Đức Thọ (1997). Chữ húy Việt Nam qua các triều đại. NXB Văn hóa Thông tin. Hà Nội.

[10] Bùi Thiết (2010). Thăng Long – Hà Nội. Từ điển địa danh. NXB Thanh niên. Hà Nội.

         

 

Abstract

Basing the different stages of history, the paper is concerned with the system of geographic name of Thăng Long-Hà Nội in century 19. For the author, in addition to a linguistic significance, research into the system of  gepgraphic name is a contribution to the  culture, history, geography of an area. A study of the geographic name of Thăng Long-Hà Nội-an area with a very special position- particulalrly a study of its names in century 19, is unexeptionally necessary.

 

Tạp chí Từ điển học & Bách khoa thư, số 3 (29) 2014