Một số vấn đề lai lịch và cấu trúc văn bản Toàn Việt thi lục ­– Bộ “bách khoa thư” về di sản thơ ca chữ Hán Việt Nam thời trung đại

10/12/2017
Hà Minh - PGS.TS. Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội; Email: haminhsphn@gmail.com

1. Mở đầu

Toàn Việt thi lục (TVTL) 全越詩錄 là công trình biên khảo, sưu tuyển thơ ca chữ Hán quan trọng nhất trong số các thi tuyển chữ Hán Việt Nam thời phong kiến, gắn với tên tuổi nhà bác học lớn nhất của thời đại là Lê Quý Đôn. Bằng một quan điểm và phương pháp ngữ văn học tiến bộ [1], có thể nói, với TVTL, Lê Quý Đôn là người đầu tiên đã tổng kết về thơ ca Việt Nam một cách quy mô nhất. Tiếc rằng, bộ sách gốc nay đã thất truyền, văn bản lại cũng chưa từng được in ấn, nên diện mạo TVTL mà chúng ta tiếp nhận hôm nay không có được hình hài trọn vẹn. Hàng loạt các vấn đề văn bản học hóc búa đã và đang tiếp tục được đặt ra, đòi hỏi được giải quyết đối với hệ thống 13 bản sao TVTL hiện tồn [2]. Trong đó, các vấn đề như: xác định tên văn bản tác phẩm; cách ghi tên tác giả trong quá trình truyền bản; niên đại tác phẩm và niên đại các bản sao; cấu trúc tổng thể của văn bản… có thể coi vừa là những vấn đề ngoại vi, vừa là những vấn đề nội tại của bản thân bộ sách. Việc tháo gỡ dần những “khúc mắc” có tính chất chi tiết này một mặt có liên quan trực tiếp đến tiến trình nghiên cứu văn bản học về TVTL, mặt khác có thể hiệu chỉnh dần để đi đến những thống nhất trong “nhận thức” về công trình mà Lê Quý Đôn đã dày công biên định, tránh bớt những bất cập, đôi khi là những nhầm lẫn không đáng có khi chúng ta tiếp cận với TVTL từ góc độ này hay góc độ khác. Với tinh thần như vậy, tiếp theo một số công việc đã tiến hành (xin xem [1], [2], [19], [20], [22-25]), ở bài viết này, trên cơ sở nghiên cứu - thẩm định hệ thống tư liệu hữu quan, chúng tôi đặt lại vấn đề tìm hiểu những khía cạnh có liên quan đến “xuất xứ” - “lai lịch” và cấu trúc của TVTL như đã nêu trên.

2. Một số vấn đề xuất xứ - lai lịch và cấu trúc văn bản “Toàn Việt thi lục”

2.1. Tên văn bản và cách ghi tên văn bản qua các tư liệu

Văn bản tác phẩm TVTL mà học giới suốt hơn nửa thế kỷ nay quan tâm khảo sát, khai thác và trích dẫn là văn bản mà trên thực tế đã có nhiều cách ghi khác nhau. Tổng kết lại và minh định xác thực về tên văn bản tác phẩm của Lê Quý Đôn sẽ giúp cho việc công bố tư liệu văn hiến được rõ ràng và thống nhất hơn. Trước hết là cách ghi của các tư liệu (bản sao) văn bản hiện còn lưu giữ được, có 5 “tên gọi” như sau:

- “Toàn Việt thi lục” (全越詩錄): Các bản A.1262, HM.2139/A, A.132 (các quyển 1, 2, 4...)

Toàn Việt thi tập” (全越詩集): Bản A.3200.

- “Toàn Việt thi tập lục” (全越詩集錄): Bản A.132 (các quyển 3,5,6)

- “Toàn Việt thi lục sao” (全越詩錄抄): Bản HM. 2139/A (các quyển 11, 13, 15…)

- “Toàn Việt thi” (全越詩) (hoặc “Toàn Việt thi quyển” (全越詩卷): Bản R.2199.

Trong tổng số 13 bản hiện biết đến, có 3 bản ghi là “Toàn Việt thi lục”; 1 bản ghi là “Toàn Việt thi tập”; một số quyển trong một vài bản có những cách ghi khác là “Toàn Việt thi tập lục” hay “Toàn Việt thi lục sao... Như vậy, cách ghi tên văn bản “Toàn Việt thi lục” (全越詩錄) là chủ đạo. Trong số 13 bản trên, bản A.1262 được xác định là bản cổ nhất [3] ghi là “Toàn Việt thi lục” (全越詩錄). Xét một vài tư liệu sử tịch và tư liệu chữ Hán khác có liên quan, thấy rằng:

- “Lịch triều hiến chương loại chí” (歷朝獻章类志) của Phan Huy Chú ghi là “Toàn Việt thi tập” (全越詩集) [4].

Lịch triều thi sao (歷朝詩抄) của Bùi Huy Bích, bài tiểu dẫn (小引) có nói “Thầy học tôi là Lê tiên sinh (Lê Quý Đôn) ở Duyên Hà lại vâng mệnh biên chép Toàn Việt thi tập 全越詩集”. (Dẫn theo bài Tiểu dẫn sách này chép lại ở Hoàng Việt thi tuyển (皇越詩選) [5]).

Vậy là, theo các tài liệu chữ Hán thì “thi lục” và “thi tập” là hai cách ghi quen thuộc và phổ biến nhất. Dẫu rằng tên gọi của văn bản Hán Nôm khác nhau thường có sự thay đổi trong quá trình truyền bản phức tạp, thậm chí có khi thay đổi hoàn toàn, nhưng đối với trường hợp bộ tổng tập thi ca đồ sộ nhất thời phong kiến mà chúng ta đang xét cũng cần có những kiến giải và cách xác định, lựa chọn. Ngoài các tài liệu chữ Hán với các cách ghi tên tác phẩm như trên, các tài liệu giới thiệu tác phẩm bằng quốc ngữ cũng có những quan điểm khác nhau. Cụ thể:

- Theo Cao Xuân Huy [6], Trần Văn Giáp (xin xem [3]), Dương Quảng Hàm [7] thì tên bộ sách được xác định là “Toàn Việt thi lục”.

- Nguyễn Tường Phượng [8] ghi là “Toàn Việt văn tập” (全越文集). Cách ghi này lạc hẳn với hệ thống các cách ghi của tài liệu chữ Hán và tiếng Việt khác. Mặt khác, cách ghi “văn tập” không phù hợp với một bộ sách chuyên sao chép thơ ca.

- Một vài bài nghiên cứu, giới thiệu trên báo chí ghi là “Toàn Việt thi tập” (dẫn theo [18]).

- Ban Hán Nôm [9] xác định tên sách là “Toàn Việt thi lục”, sau đó Trần Nghĩa và Francois Gros [10] cũng ghi theo như vậy; các sách Thơ vă - Trần [11],Từ điển văn học [12], Hợp tuyển thơ văn Việt Nam [13], Tổng tập văn học Việt Nam [14]… và các giáo trình Đại học từ trước đến nay nói chung cũng đều thống nhất theo cách ghi “Toàn Việt thi lục”.

Từ đó, có thể đi đến một sự lý giải và thống nhất như sau:

- Cách ghi “Toàn Việt thi” hay “Toàn Việt thi quyển” là của riêng bản R.2199. Bản này ra đời muộn, tính chất ghi chép lộn xộn, độ tin cậy không cao nên có thể loại bỏ. Cách ghi “Toàn Việt thi lục sao” chỉ là của một số quyển trong bản HM.2139/A, chữ “sao” (抄) ở đây có thể chỉ là phản ánh ý nghĩa sao lại (từ một bản) TVTL khác. Cách ghi “Toàn Việt thi tập lục” chỉ là của 3 quyển (3, 5 và 6) trên tổng số 26 quyển của bản A.132. Điều này phản ánh sự nhầm lẫn và không thống nhất của những người chép sách.

- Cách ghi “Toàn Việt thi tập” chỉ xuất hiện duy nhất ở một bản là A.3200. Nhưng lại giống với cách ghi của Phan Huy Chú trong Văn tịch chí và Bùi Huy Bích trong Lịch triều thi sao. Cần chú ý rằng Bùi Huy Bích là học trò của Lê Quý Đôn và chính ông đã căn cứ vào sách của thầy để “dọn dẹp” lại mà trích tuyển thành Hoàng Việt thi tuyển. Qua đây, cũng hoàn toàn có thể chấp nhận một tên gọi chính thức của bộ sách là “Toàn Việt thi tập”. Nhưng cần lưu ý, trong nhận thức chung của các nhà ngữ văn học từ trước đến nay, tính chất của “thi tập” và “thi lục” là khác nhau về chất và về quy mô: thi lục, theo ý thức của Lê Quý Đôn khi tiếp thu phương pháp làm sách của Trung Hoa (Toàn Đường thi lục, Tống Nguyên thi hội… mà ông có nhắc đến trong Lệ ngôn của TVTL), là khái niệm có tính chất vựng biên, tổng tập; còn thi tập thường dùng để chỉ các tập thơ riêng của từng nhà. Trong khi đó, bộ “Toàn Việt thi…” của Lê Quý Đôn được xác định rõ là tập hợp đầy đủ nhất toàn bộ thơ ca của nước Việt, thì cách gọi “Toàn Việt thi tập” cần có sự minh định nội hàm thật rõ trước khi sử dụng.

- Cách ghi “Toàn Việt thi lục” phổ biến hơn cả ở các truyền bản, trong đó có cả một bản cổ nhất là bản đời Lê (A.1262). Cách ghi này đã trở thành quen thuộc trong các sách thư mục học, từ điển, chuyên luận, chuyên khảo và giáo trình. So với cách ghi “thi tập” thì cách ghi “thi lục” có thể có thêm một nhân tố hợp lý, như đã nói sơ qua ở trên, đó là: cách đặt tên “thi tập” thường phổ biến hơn với tuyển tập của một tác giả, trong Vân đài loại ngữ [15], Lê Quý Đôn đã dẫn hàng loạt các “thi tập” loại này; trong khi bộ sách này có tính chất ghi chép tổng hợp thơ ca của nhiều nhà, nhiều triều đại; hơn nữa, đặt trong hệ thống tên sách và tính chất các bộ sách của Lê Quý Đôn như Kiến văn tiểu lục [16], Phủ biên tạp lục [17]… chúng ta càng thấy cách ghi này là hợp lý.

Vì vậy, chúng tôi đề nghị lấy cách ghi phổ biến và đã thành truyền thống là “Toàn Việt thi lục” (全越詩錄) làm tên gọi xác định, chính thức của bộ sách.

2.2. Niên đại hoàn thành văn bản

Trong công tác văn bản học, việc xác định thời gian hoàn thành văn bản là công việc rất quan trọng, vì từ đó mới có thể xác định thời điểm bắt đầu hình thành các bản sao. Còn việc xác định niên đại các bản sao lại đi hỏi phải thông qua phân tích cụ thể các bản sao đó với những tiêu chí cụ thể khác.

Với TVTL, chúng ta không may mắn có được bản gốc, tác phẩm lại cũng chưa được khắc in nên dạng thức và tính chất truyền bản có nhiều biến động, phức tạp. Mặt khác, ngoài Lệ ngôn (例言) thì TVTL cũng không có một bài tựa bạt nào khác; trong khi Lệ ngôn lại không ghi năm soạn… nên chúng ta không có đủ “nội chứng” để xác định niên đại hoàn thành tác phẩm. Trong tình hình ấy chúng ta buộc phải căn cứ vào các chứng cứ ngoài văn bản. Có thể thấy, các sách Đại Việt sử ký tục biên (大越史記續編), Khâm định Việt sử thông giám cương mục (欽定越史通監綱目)… đã có nhiều ghi chép quan trọng và khá thống nhất giúp chúng ta xác định chính thức thời gian Lê Quý Đôn biên soạn xong bộ TVTL. Theo đó, Lê Quý Đôn đã “vâng chỉ biên định” TVTL, soạn xong năm thứ 29 niên hiệu Cảnh Hưng đời Lê Hiển Tông, tức năm 1768 (sau khi ông lui về quê nhà nghỉ 2 năm và được phục lại chức Thị thư kiêm Quốc tử giám Tư nghiệp). Chúng ta không biết đích xác Lê Quý Đôn “phụng chỉ biên định” TVTL vào năm nào nhưng có điều chắc chắn là sau chuyến đi sứ (1760 - 1761), vì nội dung ghi chép cũng như quy cách biên tập phản ánh rõ ông chịu ảnh hưởng kết quả (sưu tầm bổ sung thêm thơ ca tại Trung Hoa) và phương pháp làm sách (thi tuyển) của Trung Quốc. Chắc chắn, với một khối lượng công việc vô cùng phức tạp, phạm vi - quy mô sưu tập, hiệu chỉnh về tác giả - tác phẩm đồ sộ, số lượng thư tịch cần khảo sát, thống kê, tra cứu… đa dạng vào bậc nhất… thì với sức làm việc dẫu là phi thường của một cá nhân cũng phải có một thời gian cần đủ nhất định. Tuy thế, đã từng tồn tại một số nhận định cho rằng nó được “Lê Quý Đôn sưu tầm và biên soạn trong vòng một năm” [18]. Nhận định này rõ ràng không xác đáng.

Chúng tôi theo ý kiến của Nguyễn Huệ Chi cho rằng bộ sách này “được biên soạn trong khoảng những năm 1760 - 1767” (xin xem [11], tr. 128), và nó cũng đúng với lời chú dẫn của Bùi Huy Bích trong Hoàng Việt thi tuyển. Cũng cần nói thêm rằng, trong nội dung TVTL có những phần chứng tỏ ông soạn sau khi đi sứ về (1760) như phần thơ Trần Ích Tắc, nhưng cũng có những phần chứng minh ngược lại. Ví dụ: khi đi sứ, ông đọc Quảng Tây thông chí, biết 5 bài thơ vô danh đời Trần chép trong Việt âm thi tập là của Lê Trắc (xin xem Kiến văn tiểu lụcThiên chương [16]). Nhưng trong TVTL, 5 bài đó vẫn để vô danh mà không chú thích. Hoặc khi đi sứ ông đọc được Nam Ông mộng lục có một số bài thơ chưa đâu có, nhưng trong TVTL vẫn không có những bài ấy...

Tóm lại, tuy không có chứng cứ từ văn bản, nhưng theo như nhiều tài liệu truyền chép và qua phân tích như trên, chúng ta có thể đi tới thống nhất ba điểm sau đây: Thứ nhất, TVTL được hoàn thành vào năm Cảnh Hưng 29 đời Lê Hiển Tông - 1768. Vì sách chưa được khắc bản để in nên có thể sau đó Lê Quý Đôn vẫn tiếp tục tiến hành sửa chữa, hiệu chỉnh, bổ sung. Đó là công việc bình thường của phong cách làm việc khoa học ở nhà hoạt động ngữ văn học Lê Quý Đôn. Thứ hai, có thể từ trước khi nhận chiếu chỉ biên tập (khoảng sau khi đi sứ về - 1761), Lê Quý Đôn đã chú ý cóp nhặt tư liệu và vốn đã có ý đồ sao lục lại di sản thi ca của quá khứ, có nghĩa là ông đã thực sự bắt đầu công việc từ rất sớm, trước đó hàng chục năm, và việc có chiếu chỉ biên tập cũng như tri thức về phương pháp biên định thơ ca ông học được sau chuyến đi sứ đã như một “cú hích” giúp Lê Quý Đôn mau chóng hoàn tất công việc. Thứ 3, như thế, tất cả thế hệ các bản sao TVTL chỉ có thể bắt đầu từ thời điểm 1768 mà thôi. Về điểm này, chúng tôi đã có dịp đề cập đến một cách chi tiết [19].

2.3. Cách ghi tên tác giả qua các truyền bản Toàn Việt thi lục

Mặc dù tác giả sách TVTL đã được khẳng định là của Lê Quý Đôn, nhưng trên thực tế, cách ghi tên tác giả (người sưu tầm, sao chép, biên dịch, chú giải) qua các truyền bản TVTL có điểm khác nhau mà qua đó, có thể bổ sung cho chúng ta thêm những thông tin để đánh giá các bản sao, đánh giá về người sao chép... trong việc xác lập sơ đồ truyền bản. Bởi vậy, chúng tôi thấy cần thiết phải trình bày thêm về vấn đề này. Trước hết, xét các bản tương đối đầy đủ thuộc Loại I (xin xem [2]), chúng tôi thấy cách thức ghi chép có sự không thống nhất, ngay trong một bản cũng xuất hiện điều này:

- Bản A.1262, như đã nói, là bản cổ nhất và có vị trí khá quan trọng nhưng dòng ghi tên tác giả ở cuối Mục lục “Hàn lâm viện thừa chỉ Dĩnh Thành bá thần Lê Quý Đôn phụng biên” (翰林院承旨穎城伯臣黎貴敦編) lại là dòng chữ khác với lối chữ trong cả tập sách, nên chúng tôi theo ý kiến của Trần Văn Giáp (xin xem [3], tr.42) phỏng đoán do người đời sau chép thêm vào, mà lại chép khác với các bản khác. Hơn nữa, trong cả bộ sách thì đây lại là dòng duy nhất đề tên tác giả, trong khi một số bản khác sau phần Mục lục và mở đầu các quyển đều có ghi (ví dụ: A.132; A.3200…). Giống với A.1262, bản HM.2139/A cũng chỉ ghi tên tác giả một lần sau Mục lục, nội dung ghi chép cũng giống nhau: Hàn lâm viện Thừa chỉ Dĩnh Thành bá thần Lê Quý Đôn phụng biên (không phải là “phụng chỉ biên định” 奉旨編定 như một số bản khác).

- Các bản còn lại trong số những bản tương đối đầy đủ kể trên, cách ghi tên tác giả cũng có sự khác nhau và khác với A.1262, HM.2139/A. Cụ thể như sau: Bản A.3200 sau Mục lục và trang đầu mỗi quyển đều ghi thống nhất là: “Hàn lâm viện Thừa chỉ Dĩnh Thành Bá thần Lê Quý Đôn phụng chỉ biên định” (翰林院承旨穎城伯臣黎貴敦奉旨編定). Cách ghi này khác mấy chữ so với HM.2139/A (và A.1262): phụng biên và phụng chỉ biên định; cũng có thể xem như thế là đầy đủ, rõ ràng hơn.

Phức tạp và không thống nhất về cách ghi nhất là phần sau của bản A.132. Các quyển từ 16 trở đi của bản này ghi tên tác giả nhiều lần, trong đó nội dung dòng chữ có 5 loại:

- Chỉ ghi là “…thần Lê (không có Quý, Đôn) phụng chỉ biên định” 臣黎奉旨編定. Ví dụ: Trước Q12 (A.132/2), Q13 (A.132/2), Q14 (A.132/2), Q22 (A.132/4).

- Chỉ ghi là “…thần Lê Quý (không có Đôn) phụng chỉ biên định” 臣黎貴奉旨編定. Ví dụ: trước các Q15, Q16, Q17, Q18 …(A.132/3).

- Ghi đầy đủ là “… thần Lê Quý Đôn phụng chỉ biên định” 臣黎貴敦奉旨編定. Ví dụ: đầu các Q1, Q2, Q3, Q4, Q5, Q6 ... (A.132/1).

- Ghi thiếu chữ thần (臣) (duy nhất khác với tất cả các quyển, các bản): đó là dòng đề tên tác giả sau Mục lục (A.132/1). Trong khi sau chữ Đôn (敦), trước chữ phụng (奉) lại để trống một khoảng.

- Không ghi tên Lê Quý Đôn mà lại ghi “… thần Lê Quế Đường 臣黎桂堂 phụng chỉ biên định”: Đây cũng là lần ghi duy nhất khác với tất cả các quyển và các bản khác (đầu Q11 – A.132/2).

Thông tin về tác giả tại bản A.132, cụ thể hơn là từ Q16 trở đi của bản này, đủ để phản ánh rằng: người sao chép tuy có ý thức “nhắc” lại tên tác giả ở trước mỗi quyển nhưng rõ ràng có sự cẩu thả khi sao chép. Cũng có thể có một lý do nữa, đây là bản mà khi so sánh lối chữ thấy do nhiều người sao chép, người kiểm định sau sao chép (nếu có) cũng đã không chú ý duyệt cẩn thận. Ngoài các bản kể trên, những bản khác do mất đầu mất cuối hoặc tính chất ghi chép lộn xộn, cũng có những chỗ sai khác trong cách ghi tên tác giả. Qua sự mô tả trên, chúng tôi nhận thấy, 2 cách ghi tên ở dạng đầy đủ và cẩn thận nhất, có thể tin cậy là: (HM.2139/A): “Hàn lâm viện thừa chỉ Dĩnh Thành bá thần Lê Quý Đôn phụng biên” và (A.3200): “Hàn lâm viện thừa chỉ Dĩnh Thành bá thần Lê Quý Đôn phụng chỉ biên định”. Có thể nghĩ rằng cách ghi “…phụng biên” cũng đã là đầy đủ và mặt nào đó cổ hơn. So sánh với các sách khác do các tác giả “vâng chỉ biên tập” ở đời Lê, và thường cũng chỉ ghi tên tác giả một lần (dẫu sách có nhiều quyển), chúng tôi cho rằng cách ghi như HM.2139/A là hợp lý. Còn cách ghi “…phụng chỉ biên định” và ghi lại nhiều lần đầu mỗi quyển có thể là do người chép sách đời sau tự sửa chữa và thêm vào.

Tóm lại, ở trên, chúng tôi đã tổng hợp và phân tích một số thông tin có liên quan về tác giả, tên tác phẩm, cách ghi tên tác giả - tác phẩm, niên đại hoàn thành văn bản (để từ đó bắt đầu các thế hệ bản sao)… Những lý giải cần thiết bước đầu với mức độ khái quát như thế nhằm tìm hiểu phương diện định bản của văn bản TVTL, tạo điều kiện thuận lợi cho việc khảo sát chi tiết vào nội dung văn bản, từ đó dần dần nhận diện văn bản TVTL một cách toàn diện hơn.

2.4. Cấu trúc của văn bản Toàn Việt thi lục

Từ sự thống kê và mô tả chung nhất về hiện trạng các bản sao TVTL, căn cứ vào các thông tin thống nhất ở các bản và qua sự phân tích tư liệu, chúng ta có thể hình dung về cấu trúc tổng thể của văn bản TVTL như sau:

- Tên văn bản: Toàn Việt thi lục (全越詩錄).

- Tên tác giả biên định: Hàn lâm viện Thừa chỉ Dĩnh Thành bá thần Lê Quý Đôn phụng biên (翰林院承旨穎城伯臣黎貴敦奉編).

Lệ ngôn (例言): Giới thiệu về thể lệ, quy cách biên định, thể thức sưu tầm...

Mục lục (目錄): Chia theo quyển, kê tác giả theo từng quyển, thống kê số bài thơ của mỗi tác giả.

- Nội dung: Q1 - Q2 chép thơ các vua thời Lý - Trần - Nhuận Hồ; Q3 - Q4 chép thơ của công khanh đại phu và thường dân thời Lý - Trần - Nhuận Hồ, cuối Q4 là phần Phụ lục chép thơ của các Thiền sư thời Lý - Trần; Q5 - Q6 chép thơ các vua triều Lê; từ Q7 trở đi chép thơ của công khanh đại phu và thường dân triều Lê, cuối một số quyển có phần phụ lục “vô danh thị” (無名氏).

- Trong từng quyển, trước hết ghi tên tác giả và tiểu truyện, thống kê số lượng tác phẩm được chép, chia theo cổ thể, cận thể. Đối với từng bài thơ, có thể nêu xuất xứ, chú giải câu chữ, ghi lại lời bình của các nhà. Cuối mỗi quyển thống kê lại số lượng tác phẩm được chép trong quyển ấy, thuộc triều đại nào.

Căn cứ vào kết cấu chung nhất như vậy, khi phân tích, so sánh các bản sao TVTL, chúng ta sẽ phải chú ý đối chiếu để thấy được sự “xuất nhập” của các bản trong quá trình truyền bản; đồng thời lấy đó làm một cơ sở để có những nhận định cần thiết về các bản sao và đánh giá về quy cách sao chép, biên định thơ ca của Lê Quý Đôn.

Một vấn đề văn bản học đặt ra và có liên quan trực tiếp đến cấu trúc của TVTL cũng như các vấn đề về quan điểm, phương pháp sưu tập, biên định di sản thơ ca của Lê Quý Đôn; về phạm vi và quy mô của văn bản tác phẩm..., đó là tính xác thực của bài Lệ ngôn mở đầu TVTL [20]. Theo tổng hợp của chúng tôi, trên tổng số 13 bản TVTL hiện còn biết được, có 8 bản còn sao chép được trọn vẹn Lệ ngôn: gồm 4 bản Loại I và 4 bản Loại II, trong đó có bản A.1262 là bản đời Lê được xác định là cổ nhất. Chúng tôi so sánh các bài Lệ ngôn ở 8 bản trên và thấy rằng, ngoại trừ những khác biệt nhỏ về văn tự, khái niệm, những chữ viết sai hoặc nhầm lẫn tự dạng, những chữ mất do giấy rách... thì nội dung khá thống nhất, chứng tỏ sự ổn định tương đối về mặt văn bản và truyền bản. Cuối bài Lệ ngôn không ghi tên người soạn như thường thấy ở các bài tựa, bạt các sách khác. Chúng tôi phỏng đoán có nhiều khả năng: (1) Bài Lệ ngôn vốn có ghi tên người soạn nhưng do văn bản chưa được khắc in nên có thể bị rơi rụng trong quá trình truyền bản; (2) Tính chất của Lệ ngôn về cơ bản là ghi thể lệ - quy cách biên định (của chính soạn giả Lê Quý Đôn) nên không ghi tên người viết như những bài tự, bạt thông thường; (3) Hơn nữa, tiếp liền với Lệ ngôn là Mục lụcmà sau Mục lục đã có ghi tên người biên định (Lê Quý Đôn) theo chiếu chỉ của triều đình, do thế giữa người biên định và thể lệ - quy cách biên định vốn dĩ đã có quan hệ mật thiết với nhau.

Ngoài tư liệu từ chính các bản sao TVTL, hiện chúng ta không được biết đến bài Lệ ngôn này có còn được ghi chép ở một tài liệu khác; cũng không tìm thấy một dấu hiệu hoặc nghi vấn nào có thể bác bỏ tính xác thực về mặt nội dung và tác giả của nó. Có lẽ cũng chính vì vậy mà các nhà nghiên cứu từ trước tới nay đều mặc nhiên thừa nhận tác giả của Lệ ngôn không ai khác chính là Lê Quý Đôn. Điều này được ghi nhận tại tất cả các công trình nghiên cứu - giới thiệu, các bộ tổng tập - hợp tuyển, thư mục có liên quan. Đặc biệt, các soạn giả Thơ văn Lý - Trần (đã dẫn) khi hiệu đính và dịch Lệ ngôn còn dẫn giải và chua thêm dòng “Quế Đường Lê Quý Đôn tự” (Lê Quý Đôn hiệu là Quế Đường viết lời tựa). Tìm hiểu sâu thêm vào nội dung, chúng ta càng có cơ sở khẳng định bài Lệ ngôn do chính Lê Quý Đôn soạn, và tính chân thực của nó khá cao. Thể hiện ở chỗ: (1) Lệ ngôn có câu “Nay vâng mệnh biên tập, xin kính theo thứ tự các đời mà phân chia thành quyển...” (Phụng mệnh biên tập, cẩn y thời thế tiên hậu, phân định quyển trật (奉命編集,謹依時世先後...)); “Nay vâng mệnh biên tập thi lục, xin trộm phép phỏng theo lệ ấy” (Kim phụng toản thi lục, thiết phỏng thử lệ (今奉纂詩錄,窃訪此例)). Những ý này chứng tỏ, người “phụng mệnh biên tập” chính là người soạn Lệ ngôn, cũng chính là người xưng thần (臣) trong suốt văn bản. (2) Quy cách biên soạn của TVTL tuân thủ những điều trình bày trong Lệ ngôn, quy cách ấy chứa đựng những tri thức mới mẻ kế thừa của học thuật Trung Hoa, khắc phục các hạn chế của thi tuyển đời trước... rất phù hợp với quan điểm, phương pháp của Lê Quý Đôn sau chuyến đi sứ, mà trước đó học thuật trong nước chưa thể có được. (3) Hệ thống những quan điểm về văn học, về phương pháp biên định văn hiến... thể hiện trong Lệ ngôn hoàn toàn khớp với tư tưởng học thuật của Lê Quý Đôn được trình bày trong các công trình biên khảo khác của ông.

Từ những dẫn giải ngắn gọn như trên, cho đến hiện tại, chỉ có thể khẳng định: Bài Lệ ngôn sách TVTL gắn liền với cấu trúc hình thức và nội dung của văn bản, nó đích thực là do Lê Quý Đôn soạn. Cũng không có bằng chứng nào cho thấy bài Lệ ngôn này là ngụy tạo hay có sự thêm bớt, chỉnh sửa lớn của người đời sau trong quá trình truyền bản. Chúng ta hoàn toàn có cơ sở để tiếp tục phân tích các thông tin ở đó để so sánh, luận giải các vấn đề có liên quan đến văn bản TVTL.

3. Kết luận

Văn bản các bản sao bộ sách TVTL hiện nay đang là nguồn tư liệu văn hiến quan trọng nhất trong việc khai thác di sản thơ ca chữ Hán của dân tộc trong quá khứ. Thực tế công việc khai thác, thẩm định tư liệu để giới thiệu sáng tác của các nhà đã bộc lộ những bất cập nhất định. Đặt ra và giải quyết từng bước những mâu thuẫn nội tại của hệ thống văn bản nguồn sẽ giúp ích cho công việc này thuận tiện hơn. Mặt khác, tuy là những vấn đề chỉ có tính chất “ngoại vi”, nhưng nó cũng giúp tạo dựng cơ sở thực tế để tiến tới nhận diện và có thể dần dần khôi phục bản lai diện mục của công trình mà Lê Quý Đôn đã dày công biên khảo.

 

CHÚ THÍCH, TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ TRÍCH DẪN

[1] Hà Minh (2004), Quan điểm và phương pháp sưu tập, biên định di sản văn hoá thành văn quá khứ của Lê Quý Đôn thể hiện qua Toàn Việt thi lục, Kỷ yếu Hội thảo Những nhà nghiên cứu Ngữ văn trẻ, Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội xuất bản, tr. 105-111.

[2] Hà Minh (2003), Tổng quan về tình hình và giá trị văn bản Toàn Việt thi lục của Lê Quý Đôn, Tạp chí Khoa học, số 5, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, tr. 20-23. Cụ thể 13 bản sao TVTL được chúng tôi phân loại như sau: Loại 1 gồm 4 bản: (1) A.1262, 5 tập, ngoài vài dòng do người đời sau chép thêm vào và một số trang (tạm phỏng đoán là các trang lót bìa, không nằm trong cấu trúc bản sao này) chép thơ Trần Danh Án và Lê Chiêu Thống thì: Tập1 có Lệ ngônMục lục, chép thơ từ Q1 đến Q4; Tập2 chép thơ từ Q5 đến Q6; Tập3 chép thơ từ Q7 đến Q10; Tập4 chép thơ từ Q11 dến Q13; Tập5 gồm Q14 và Q15. Cộng 15 quyển. Thơ từ triều Lý đến Lê (Hồng Đức). (2) Bản A.3200, 4 tập, Tập 1 có Lệ ngônMục lục, chép thơ từ Q1 đến Q6; Tập 2 chép thơ từ Q7 - Q13; Tập 3 từ Q14 - Q15; Tập 4 chép thơ Q16. Cách chia tập như trên khác với các bản khác; về số quyển bản này nhiều hơn bản A. 1262 một quyển (Q16). Đại để, phạm vi 15 quyển đầu gần sát với A.1262, chép đến Lê (Hồng Đức); Q16 chép thơ triều Mạc. (3) Bản A.132, 4 tập, Tập 1 gồm Lệ ngônMục lục ghi 15 quyển, phần thơ chép từ Q1 đến Q6; Tập 2 chép thơ từ Q11 đến Q14; Tập 3 chép thơ từ Q15 đến Q18 (7); T4 chép thơ từ Q20 đến Q26. Như vậy, giữa Tập 1 và Tập 2 thiếu 4 quyển, từ Q7 đến Q10. So sánh với cách chia tập thì có một số điểm khác với A.1262 và A.3200. Các quyển khuyết giữa Tập1 và Tập 2 này chúng ta may mắn bổ sung được từ những bản khác - chẳng hạn, từ A.3200. Theo ý chúng tôi thì nếu đầy đủ, A.132 sẽ có 5 tập, các quyển từ Q7 đến Q10 hiện khuyết thiếu sẽ thuộc Tập 2, theo đó thì Tập 3, Tập 4 hiện tại sẽ phải là Tập 4, Tập 5. Nhưng phần khuyết thiếu có lẽ do bị thất lạc đó hiện chưa tìm thấy được, nên phải chấp nhận thứ tự của 4 tập như ký hiệu hiện tại của thư viện. Theo kết cấu trên, số quyển đầy đủ của A.132 sẽ là 26 (trong khi Mục lục cũng chỉ chép đến Q15 giống nhiều bản khác, ví dụ: A.1262), trừ 5 quyển khuyết thiếu (7, 8, 9, 10, 19) thì thực có 21 quyển. Dẫu thế, thì đây là bản có số quyển nhiều nhất trong số các bản sao TVTLhiện được biết và nhiều hơn hẳn so với các thông tin về số quyển của TVTL theo các tư liệu. (4) Bản HM.2139/A-B (ký hiệu do chúng tôi tạm phục nguyên), là bản sao chụp từ microfilm mà chúng tôi sưu tầm. HM.2139 gồm hai bộ phận, thực chất là 2 bản khác nhau: (a): HM.2139/A gồm 15 quyển; (b): HM.2139/B gồm 2 quyển 15 và 16 (hai phần này trùng nhau một quyển, Q15). Phần B của HM.2139 tuy chỉ có 2 quyển nhưng rất có ý nghĩa. Xét tổng thể thì đây là một bản TVTL riêng biệt, có lẽ vì để tiện lưu giữ nên thư viện ở Pais đã gộp với bản TVTL 15 quyển (phần A) nói trên và có ý thức tách làm 2 phần (A, B) của một ký hiệu tàng bản (phần số) là 2139. Loại 2 gồm các bản sao chép đầy đủ 3 quyển đến 6 quyển đầu, có Lệ ngôn và Mục lục; sách chép cẩn thận, có thể sử dụng để so sánh và khảo sát dị văn. Loại này gồm có 4 bản: A.1334; VHv.1450; VHv.116; VHv.117. Loại 3, các bản còn lại, gồm những bản có số quyển ít hoặc tính chất ghi chép lộn xộn, là những bản chỉ ghi chép được một số quyển giữa của bộ TVTL. Loại này về cơ bản ít giá trị tham khảo khi nghiên cứu tổng thể về TVTL, gồm 5 bản sau: HM.2139/B; A.393; A.2743; VHv.777; R.2199. Trong 5 bản trên, riêng HM.2139/B là có giá trị hơn cả trong việc so sánh, đối chiếu các bản sao, vì số quyển của nó quá ít nên chúng tôi đề nghị xếp vào loại này.

[3] Trần Văn Giáp (1990), Tìm hiểu kho sách Hán Nôm - nguồn tư liệu văn học sử học Việt Nam, tập 2, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.

[4] 潘暉注 - 歷朝憲章類志, A. 1551. Cũng xem: Lịch triều hiến chương loại chí, tập 4 (1961) (Văn tịch chí) (Tổ phiên dịch Viện Sử học ), NXB Sử học, Hà Nội.

[5] 裴暉壁 - 皇越詩選, A.3162. Xem thêm: Lịch triều hiến chương loại chí, tập 4 (1961) (Văn tịch chí) (Tổ phiên dịch Viện sử học ), NXB Sử học, Hà Nội. Sách Lịch triều thi sao của Bùi Huy Bích không còn nguyên bản, Phan Huy Chú có sao lại bài tựa của sách này. Bài tựa đó sau được khắc in lại trong Hoàng Việt thi tuyển 皇越詩選 dưới tên Lịch triều thi sao tiểu dẫn (歷朝詩抄小引). Thực ra Lịch triều thi sao chính là tiền thân của Hoàng Việt thi tuyển, bản thân Hoàng Việt thi tuyển cũng in lại Mục lục của bản Thi sao (tức Lịch triều thi sao).

[6] Cao Xuân Huy, Lời giới thiệu, trong Vân Đài loại ngữ, tập 1 (Trần Văn Giáp dịch) (1962), NXB Văn hoá, Hà Nội.

[7] Dương Quảng Hàm (1950), Việt Nam Văn học sử yếu, Bộ Giáo dục Quốc gia xuất bản, Hà Nội.

[8] Dẫn theo: Văn Tân, Nguyễn Hồng Phong, Nguyễn Đổng Chi (1958), Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, Ban Văn Sử Địa xuất bản, Hà Nội và [19].

[9] Thư mục Hán Nôm (1969 - 1972), Ban Hán Nôm - Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam.

[10] Trần Nghĩa - Franscois Gros (cb) (1993), Di sản Hán Nôm Việt Nam thư mục đề yếu (3 tập), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.

[11] Nguyễn Huệ Chi (cb) (1977), Thơ văn Lý Trần, tập 1, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.

[12] Nhiều tác giả (1984), Từ điển văn học, tập 2, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội (Trần Băng Thanh, mục TVTL).

[13] Nhiều tác giả (1976), Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, NXB Văn học, Hà Nội.

[14] Nhiều tác giả: Tổng tập văn học Việt Nam (2000), nhiều tập, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.

[15] 黎貴敦 - 雲臺類語, A.141. Cũng xem: Lê Quý Đôn, Vân đài loại ngữ (dịch) (1962), NXB Văn hoá, Hà Nội.

[16] 黎貴敦 - 見聞小錄 (篇章篇), A.32. Cũng xemLê Quý Đôn toàn tập, tập 2 (Kiến văn tiểu lục) (Phạm Trọng Điềm dịch) (1977)NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.

[17] Lê Quý Đôn toàn tập, tập 1 (Phủ biên tạp lục) (Đỗ Mộng Khương,… dịch) (1977)NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.

[18] Phạm Quang Trung (1993), Văn chương với Lê Quý Đôn, Trường Đại học Đà Lạt, tr. 59.

[19] Hà Minh (2005), Vấn đề xác lập phả hệ văn bản Toàn Việt thi lục của Lê Quý Đôn, Tham luận Hội thảo khoa học toàn quốc: Nghiên cứu và giảng dạy Ngữ văn Hán Nôm trong nhà trường ĐH và CĐSP, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.

[20] Hà Minh (2010), Về phạm vi nội dung và quy mô kết cấu bộ Toàn Việt thi lục của Lê Quý Đôn, Báo cáo chuyên đề sau đại học: Văn bản học thi tuyển chữ Hán Việt Nam, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.

[21] Trần Văn Giáp (1971), Lược truyện cỏc tỏc gia Việt Nam, tập 1, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.

[22] Hà Minh, Nguyễn Thanh Tùng (2005), Giới thiệu tình hình văn bản và giá trị một số bộ thi tuyển chữ Hán tiêu biểu của Việt Nam thời Trung đại, Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, số 5.

[23] Hà Minh, Nguyễn Thanh Tùng (2005), Những vấn đề đặt ra trong nghiên cứu thi tuyển chữ Hán Việt Nam, Tham luận Hội thảo khoa học toàn quốc: Nghiên cứu và giảng dạy Ngữ văn Hán Nôm trong nhà trường ĐH và CĐSP, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.

[24] Hà Minh (2006), Có bản sao Toàn Việt thi lục ở Trung Quốc, Tạp chí Hán Nôm, Số 4 (77), tr. 74-77.

[25] Hà Văn Minh (2007), Nghiên cứu văn bản Toàn Việt thi lục của Lê Quý Đôn, LA, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.

[26] 全越詩錄 (敦編輯), A.3200/1- 4; A.1262/1-5; A.132/1- 4; A.1334; A.393; A.2743; VHv.116; VHv.117/1-2; V0v.1450/1-2; VHv.777/1-2; R.2199; HM.2139/A (sưu tầm); HM.2139/B (sưu tầm).

 

ABSTRACT

Examining a photo of “Toàn Việt Thi Lục” still known now, we collect and explain some information related to the origin and structure of the book. Those are such discussions as the text names, how the name were written; when the text was finished; how the authors' names were written in the system of text dissemination and the text structure of the book. Those issues have received quite many arguments and controversial information.

 

 Tạp chí Từ điển học & Bách khoa thư, số 5 (31) 2014