Cách thức thể hiện kênh chữ trong “Từ điển Bách khoa Việt Nam”

28/11/2017
Đỗ Thị Lượng – ThS. Ngữ văn, Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam; Email: dobinhluong@yahoo.com.

1. Tổng quan

Từ điển bách khoa là loại sách có chức năng cung cấp thông tin vắn tắt nhằm giải đáp các thắc mắc thường đơn giản, không phức tạp lắm, nảy sinh trong cuộc sống thường nhật và xung quanh những khái niệm khoa học, kỹ thuật, nghệ thuật hay những tri thức thực tiễn khác. Một số từ điển bách khoa còn mang thêm một phần nội dung của từ điển ngôn ngữ; người ta đưa vào đây để giải nghĩa một số từ trong lớp từ văn hoá (thường có nguồn gốc ngoại lai). “Từ điển Bách khoa Xô viết” (Советский Энциклопедический Словарь) lần xuất bản thứ ba (một tập, 1986), “Nouveau Larousse Universel (1973)… thuộc loại này. Đồng thời, do nhu cầu hiểu biết của xã hội ngày một tăng, từ điển ngôn ngữ cũng gánh thêm một phần nội dung của từ điển bách khoa. Quyển “Nouveau Petit Larousse thuộc loaị ấy, trong từ điển này, có cả phần “Lịch sử” trong đó có những thông tin về lịch sử, địa lý, nhân vật, sự kiện, tác phẩm…

Theo nội dung, từ điển bách khoa chia làm hai loại chính: tổng hợp và chuyên ngành.

a) Loại tổng hợp: “Từ điển Bách khoa Xô viết” (của Liên Xô), “Từ điển bách khoa Mayer (của Cộng hoà Dân chủ Đức), “Nouveau Larousse Universel (của Pháp) và “Từ điển Bách khoa Việt Nam” thuộc về loại này.

b) loại chuyên ngành: Chứa đựng những tri thức về một ngành khoa học, kỹ thuât, nghệ thuật, nông nghiệp, y học. Ở Việt Nam có các bộ: “Từ điển Bách khoa quân sự”, “Từ điển Bách khoa nông nghiệp”, v.v.

Theo quy mô, từ điển bách khoa thường chia làm hai cỡ chính: lớn và nhỏ; ở Liên Xô còn có loại tóm tắt; ở Đức, có loại “bỏ túi”. Các cỡ lớn, nhỏ và tóm tắt tuỳ theo từng nước mà quy định. Với khổ sách 21x26 cm, mỗi tập độ 600 trang – 700 trang, từ điễn bách khoa cỡ lớn của Liên Xô, Anh, Mỹ hiện nay đều gồm 30 tập (không kể hằng năm, từ sau khi xuất bản tập 30, còn ra một “niên giám” để bổ sung những tri thức mới. Song, ở Pháp hiện nay, cỡ lớn thường gồm 20 tập như Grand Encyclopédie. Còn trước đây, thì từ điển bách khoa cỡ lớn, có thể gồm nhiều tập hơn, thậm chí vài trăm tập như “Từ điển bách khoa theo môn loại” (Encyclopédie Méthodique) (1782-1832) của J. Panckoucke, 201 tập.

Còn từ điển bách khoa cỡ nhỏ có thể có từ vài ba tập đến 10 tập; “Từ điển Bách khoa Xô viết” cỡ nhỏ: 10 tập; “Từ điển Bách khoa Hunggari loại mới”: 7 tập (1959-1972); “Từ điển Bách khoa Larousse, theo môn loại”: 2 tập. “Từ điển Bách khoa Việt Nam” là loại cỡ nhỏ: 4 tập.

Các từ điển bách khoa cũng thường không ghi rõ cỡ lớn hay cỡ nhỏ, song trong thực tế, có thể căn cứ vào số lượng mục từ để biết được quy mô của công trình. Ví dụ: “Từ điển bách khoa Xô viết” in lần thứ ba có 800.000 mục từ, in chữ nhỏ, trên 1.600 trang khổ lớn.

“Từ điển Bách khoa Việt Nam” bao gồm 4 tập, khoảng 4 vạn mục từ, mỗi tập khoảng trên dưới 1 vạn mục từ.

Hiện nay, theo đà phát triển của khoa học, các công trình từ điển bách khoa có khuynh hướng tăng số lượng mục từ nhưng rút bớt số tập. Để giải quyết mâu thuẫn này, người ta đòi hỏi phải viết ngắn gọn, có lượng thông tin cao.

 

2. Thực trạng kênh chữ của Từ điển Bách khoa Việt Nam

Bộ Từ điển Bách khoa Việt Nam (TĐBK VN) gồm 4 tập được biên soạn lần đầu tiên ở Việt Nam, là bộ từ điển bách khoa tổng hợp nhiều chuyên ngành, cỡ trung bình, có khoảng 4 vạn mục từ thuộc 40 chuyên ngành văn hoá, khoa học, kỹ thuật của Việt Nam và thế giới.

TĐBK VN là một tác phẩm đồ sộ đầu tiên của ngành từ điển học và bách khoa thư Việt Nam, nhưng cũng là vì công trình đầu tiên trên lĩnh vực này nên công việc biên soạn gặp không ít khó khăn về mặt khách quan và chủ quan. Đây là bộ từ điển bách khoa của nhiều chuyên ngành biên soạn khi các chuyên ngành hầu như chưa có từ điển hay từ điển bách khoa chuyên ngành. Các thuật ngữ khoa học do các chuyên ngành sử dụng cũng chưa có sự thống nhất và chuẩn hoá mang tính quốc gia. Ban biên soạn và các nhà khoa học tham gia với sự nhiệt tình và tinh thần trách nhiệm cao, nhưng chưa có nhiều kinh nghiệm về tổ chức và biên soạn từ điển bách khoa hiện đại, một nền khoa học mới hình thành tại Việt Nam.

Các quy ước để biên soạn cuốn TĐBK VN là: “Thể lệ biên soạn từ điển bách khoa việt Nam”. Thể lệ biên soạn quy định một số điểm cơ bản nhằm chỉ dẫn về nội dung và phương pháp cho các tác giả và biên tập viên; dùng thống nhất trong công tác biên soạn, biên tập và xuất bản. Quy trình biên soạn xác định rõ trách nhiệm của các ban. Các ban biên tập chuyên ngành và các tác giả căn cứ vào bản thể lệ này tiến hành biên soạn và biên tập.

Thể lệ này được chi tiết hoá và bổ sung hoàn chỉnh trong quá trình biên soạn.

Thể lệ biên soạn gồm có các phần sau:

- Mục đích, phương châm, quy mô biên soạn TĐBK VN;

- Quy mô biên soạn TĐBK VN: được dự kiến về số lượng mục từ và chữ tối đa khoảng 5 vạn mục từ, trên dưới 5 triệu chữ (hình vị), ước tính trên 1000 tranh ảnh, hình minh hoạ, bản đồ; số tập xuất bản (3 tập x1600 trang, khổ 19x27 mỗi trang có 1.100 chữ in cỡ 8);

- Đối với từng loại mục từ, trước hết phải chọn trong từng ngành phụ thuộc vào tình hình nghiên cứu khoa học và tổng kết đánh giá của mỗi ngành ở Việt Nam và tình hình phát triển khoa học kỹ thuật thế giới. Bởi vậy, tỉ lệ các thành phần cấu tạo nội dung từ điển bách khoa và tỉ lệ mục từ giữa các ngành sẽ được xác định trong quá trình lập bảng mục từ, trong quá trình biên soạn và hoàn chỉnh Từ điển Bách khoa Việt Nam.

Thể lệ biên soạn quy định một tỉ lệ như sau:

- Khoa học xã hội và văn học nghệ thuật: 55%

- Khoa học tự nhiên và kỹ thuật: 45%

- Tri thức về Việt Nam và tri thức chung (có tính quốc tế) và các ngành văn hoá: 79 - 80%

- Tri thức về thế giới: 30 - 20%

Các mục từ phản ánh tri thức về Việt Nam được lựa chọn tương đối rộng rãi dựa vào kho tàng văn hoá của dân tộc Việt Nam.

Các mục từ tri thức về thế giới thì chỉ hạn chế ở mức độ nhất định so với loại trên, ưu tiên chọn những tri thức giới thiệu các nước có quan hệ nhiều với Việt Nam, như các nước phương Đông, Liên Xô cũ và các nước XHCN, các nước khác (dựa vào từ điển bách khoa của các nước).

 

2.1. Phân loại mục từ của TĐBK VN

a) Theo tính chất nội dung các đầu mục từ, TĐBK VN được chia làm 4 loại sau đây:

1. Mục từ danh nhân và nhân vật: là những mục từ chỉ các danh nhân và một số nhân vật trong các ngành văn hoá, khoa học, nghệ thuật… Số lượng danh nhân và nhân vật đưa vào TĐBK VN rất hạn chế. Các danh nhân được giới thiệu trong các mục từ riêng. Còn phần lớn các nhân vật sẽ được giới thiệu kết hợp trong các mục từ khác;

2. Mục từ - tên gọi tổ chức, cơ quan: là những mục từ gọi tên các tổ chức, cơ quan tiêu biểu, bao gồm các cơ quan đảng, nhà nước, địa phương, các trường học, các nhà máy; các tổ chức đoàn thể, hiệp hội; các nhà xuất bản, các báo và tạp chí, hãng thông tấn; các thư viện, bảo tàng; các tổ chức quốc tế…;

3. Mục từ - thuật ngữ chuyên ngành: là những từ hay cụm từ thường là khái niệm nhất định của một ngành khoa học kỹ thuật, nghệ thuật… TĐBK VN chỉ lựa chọn những thuật ngữ quan trọng nhất, chủ yếu nhất của mỗi ngành (không đưa vào các thuật ngữ quá sâu);

5. Mục từ - khái niệm: là những mục từ trình bày khái niệm cụ thể hay trừu tượng về một đề tài hay một vấn đề của một chuyên ngành, chứa đựng vài thuật ngữ hoặc một số khái niệm có liên quan với nhau. Số lượng mục từ loại này chiếm vị trí quan trọng trong Từ điển bách khoa Việt Nam. Bao gồm các tên nước, tên quóc gia, các vùng địa lý, sông, núi, tỉnh, thành phố, các sự kiện lịch sử; các đại hội Đảng, các đường lối chính sách, các cuộc khởi nghĩa, các cuộc chiến tranh; các hiệp định, hiệp ước…, các loài động vật, thực vật, các hiện tượng sinh học, các bệnh, các bộ môn khoa học, các ngành kỹ thuật, các lớp đất, đá, khoáng sản, vật liệu, thực phẩm; các khuynh hướng, trào lưu, trường phái, học thuyết, chủ nghĩa, tôn giáo, các ngôn ngữ, chữ viết…

Từ các nhóm trên, mỗi chuyên ngành lại có thể phân chia thành nhiều loại mục từ khác nhau theo đặc thù của từng ngành. Việc phân loại mục từ chủ yếu là để làm cơ sở cho việc xây dựng các dàn bài, các sơ đồ biên soạn dùng thống nhất trong các ngành biên tập.

Tỉ lệ các loại mục từ trên quy định như sau:

- Mục từ danh nhân, nhân vật: 5 - 7 % (2500 - 3500 mục từ)

- Mục từ - tên gọi tổ chức, cơ quan: 10 - 15 % (5000 - 7500 mục từ)

- Mục từ thuật ngữ chuyên ngành và mục từ khái niệm đề tài: 78 - 85 %

b) Theo số lượng chữ dùng để biên soạn mỗi mục từ, các mục từ chia làm 4 loại sau đây:

- Mục từ nhỏ: dưới 100 chữ

- Mục từ vừa: từ 101 đến 200 chữ

- Mục từ lớn: từ 201 đến 300 chữ

- Mục từ rất lớn: trên 300 chữ

Có một số mục từ đặc biệt gồm vài nghìn chữ như Đảng Cộng sản Việt Nam và một số mục từ về các quốc gia.

Mỗi chuyên ngành căn cứ vào nội dung từng loại mục từ mà xác định số lượng chữ thích hợp cho từng loại, theo nguyên tắc sử dụng số lượng chữ tối đa đã được quy định.

 

2.2. Mẫu trình bày một mục từ

a) Vị trí 1 mục từ, chữ in thường, in đậm (kể cả mục từ đảo ngược);

b) Vị trí 2 chú thích tiếng nước ngoài, từ nguyên, tên riêng nước ngoài;

c) Vị trí 3 chú thích ngành chuyên môn bằng chữ tắt, hoặc năm sinh, hoặc từ cổ;

d) Vị trí 4 tên cũ, tên khác. Nếu một mục từ dùng đến các vị trí 2,3,4, thì tất cả đều đặt trong ngoặc đơn, cách nhau bằng dấu chấm phẩy;

e) Vị trí 5 bắt đầu định nghĩa, giải thích nội dung mục từ.

 

2.3. Các quy định khác

- Viết tắt mục từ trong phần định nghĩa, giải thích nội dung

- Số 1, 2, 3,... trong nội dung mục từ, nếu mục từ phân chia các mục từ nhỏ thì sau mỗi mục từ đều xuống dòng;

- Chú thích ngành chuyên môn không bắt buộc đối với mọi mục từ. Chú thích tiếng nước ngoài sau thuật ngữ khoa học phiên từ tiếng nước ngoài hoặc vay mượn;

- Phân loại sinh học theo trật tự: ngành, lớp, bộ, họ, giống (chi), loài. Sau ngành, lớp, bộ, họ, giống viết hoa chữ đầu âm tiết liền kề. Tên động, thực vật chú thích tiếng Latin;

- Tên thuốc để nguyên dạng tiếng nước ngoài, chủ yếu dùng tiếng Pháp;

- Gặp các trường hợp ngoại lệ trên đây, các ban biên tập chuyên ngành sẽ thảo luận, xử lý thống nhất.

Ví dụ: AND (chữ tắt Ph. Acide désoxyribonucleique), phân tử chính của nhân tế bào thực vật và động vật (…).

 

3. Quy trình biên soạn, biên tập TĐBK VN

3.1. Việc biên soạn do các trưởng, phó ban, thư ký khoa học các Ban biên biên tập chuyên ngành tổ chức thực hiện theo bảng mùc từ đã được duyệt và Thể lệ biên soạn TĐBK VN.

Các tác giả phải đảm bảo chất lượng nội dung các mục từ; đặc biệt chú ý tri thức khoa học, cơ bản, Việt Nam; sử dụng ngôn ngữ chuẩn mực, văn phong từ điển.

Đối với mục từ trùng với Từ điển Bách khoa Xô Viết (loại 1 tập) cần viết lại sâu hơn, nội dung phong phú hơn. Mỗi tác giả biên soạn một số lượng mục từ (30-100). Bản thảo viết một mặt, chữ to, rõ ràng, chừa lề 1/3. Trang thứ nhất, chừa 5 dòng để ghi: 1) tên chuyên ngành; 2) tên bộ môn; 3) tên tác giả; 4) số lượng chữ; 5) tên người biên tập và người hiệu đính. Dưới trang bản thảo mỗi mùc từ ghi rõ nguồn tài liệu dùng để biên soạn. Đối với các mục từ biên soạn dựa vào các từ điển bách khoa nước ngoài thì nhất thiết phải ghi rõ: từ điển bách khoa của nước nào, số năm xuất bản, số trang trích dẫn.

Trưởng ban đọc, duyệt nội dung bản thảo đã được ban biên tập chuyên ngành thông qua. Bản thảo nào viết không đạt yêu cầu thì trưởng ban tổ chức viết lại.

 

3.2. Việc biên tập Từ điển bách khoa Việt Nam sẽ tiến hành song song và xen kẽ với việc biên soạn qua 3 vòng:

Vòng 1 Biên tập ở Ban, chủ yếu về nội dung do trưởng ban và phó ban chịu trách nhiệm. Trưởng ban phải bảo đảm nội dung biên soạn đúng và đầy đủ, sửa chữa văn phong, nêu các vấn đề cần xem xét lại, kiểm tra số liệu;

Vòng 2 Biên tập kiểm tra nội dung do Ban biên tập Từ điển bách khoa Việt Nam chịu trách nhiệm; biên tập ngôn ngữ, kỹ thuật, kiểm tra số liệu do Hội đồng quốc gia Chỉ đạo biên soạn Từ điển bách khoa chịu trách nhiệm;

Vòng 3 Sơ duyệt, biên tập hoàn chỉnh bản thảo đưa in, do Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn và Ban biên tập TĐBK VN chịu trách nhiệm.

Việc tổng duyệt do Hội đồng duyệt TĐBK VN (bao gồm một số thành viên của Hội đồng Quốc gia Chỉ đạo biên soạn TĐBK VN, Ban biên tập TĐBK VN) đảm nhiệm.

 

3.3. Kế hoạch thời gian

– Đến hết tháng 12-1989, các ban tổ chức biên soạn 30% số lượng mục từ.

– Đến hết tháng 3- 1990 biên soạn 60% mục từ. Đến hết tháng 6-1990 hoàn thành việc biên tập ở các ban.

– Từ tháng 11-1989, các ban biên tập và Hội đồng tiến hành việc biên tập song song với công tác biên soạn.

– Đến hết tháng 3 1991 toàn thể Hội đồng quốc gia và Ban biên tập TĐBK VN biên tập hoàn chỉnh bản thảo.

 

3.4. Ngôn ngữ TĐBK VN

- TĐBK VN sử dụng tiếng Việt chuẩn, lời văn chính xác, súc tích, dễ hiểu, sử dụng từ ngữ trong sáng, chuẩn mực, tận dụng mọi kí hiệu ngôn ngữ để truyền đạt nội dung, tiết kiệm văn bản, một số yếu tố phụ (như việc, sự, cái, những, có thể bỏ hoặc lược bớt như dùng vì thay cho bởi vì, bởi vì rằng…);

- Chính tả chữ Việt dựa theo Từ điển chính tả tiếng Việt do NXB Giáo dục xuất bản năm 1985, có điều chỉnh một số điểm như sau: dùng i thay cho y ở cuối âm tiết mở (như Mỹ, Hi Lạp), trừ trường hợp sau qu viết - y, với âm tiết uy (tuý, thuý);

- Những từ đa tiết phiên âm tiếng nước ngoài viết liền âm tiết và không đánh dấu thanh điệu, ví dụ: Lêningrat, oxi…; tên người và tên địa lý Việt Nam viết hoa tất cả các chữ đầu âm tiết (Hồ Chí Minh, Việt Nam, Hà Nội, Thái BìnhHoàng Liên Sơn, …), tên các năm âm lịch viết hoa cả hai âm tiết (Cách mạng Tân Hợi, Chiến thắng Tết Mậu Thân 1968…); tên các cơ quan tổ chức viết hoa chữ đầu của cả cụm từ (Uỷ ban phường, Trường đại học tổng hợp Hà Nội, Bộ ngoại giao….); viết tắt tên mục từ trong phần giải thích nội dung mục từ và các cụm từ viết tắt tên các tổ chức quốc tế (ISO, UNESCO): không viết hoa chữ đầu tiên sau mục từ và những từ chỉ chức vụ (tiến sĩ, quốc trưởng, chủ tịch Hội đồng bộ trưởng…);

- Thuật ngữ chuyên môn dựa vào các cuốn từ điển thuật ngữ mới xuất bản. Các ban biên tập chuyên ngành phải sửa lại những thuật ngữ đã lỗi thời, bổ sung thuật ngữ mới. Sau một số thuật ngữ có thể chú thích nguyên ngữ hoặc từ nguyên: in ôpxet (A. offset), Intercosmos (Nga Интеркосмос), Interpol (A. International Criminal Police);

- Phiên âm tên riêng nước ngoài bằng các âm, âm tiết Việt và chữ Việt dựa trên cách đọc trực tiếp của ngôn ngữ có thể biết được, chú thích nguyên dạng tên gốc đặt giữa hai ngoặc đơn, ví dụ Pari (Ph. Paris);

- Đối với các ngôn ngữ không dùng bảng chữ cái Latin (như Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Arập…) nếu chưa phiên trực tiếp được thì tạm thời phiên âm qua ngôn ngữ trung gian, phiên qua tiếng Pháp, tiếng Anh, chủ yếu qua tiếng Anh); đối với tiếng Hán, phiên theo âm Hán-Việt và chú thích trong ngoặc đơn dạng chuyển tự sang tiếng Latin. Trường hợp không thể xác định được chữ Hán gốc hoặc nguyên ngữ là tiếng dân tộc thiểu số Trung Quốc thì phiên theo chuyển tự bằng tiếng Latin do Trung Quốc quy định;

- Một số tên riêng nước ngoài có dạng viết quá quen thuộc trong tiếng Việt thì tạm thời không sửa lại;

- Thêm vào bảng chữ cái tiếng Việt f, F (ph); J j (gi); z Z (d), W w (vê kép) để ghi các âm tương ứng. Ví dụ: Flobe (Ph. Flaubert)…;

- Các danh pháp hoá học được viết theo quy định của ngành hoá học cơ bản.

 

3.5. Cách dùng dấu nối và dấu câu

Dấu nối dùng trong các liên danh, ví dụ: Cách mạng khoa học - kỹ thuật, bộ môn hoá - dược, ngôn ngữ Hán - Tạng... Dấu nối trong nguyên ngữ tên riêng nước ngoài vẫn giữ nguyên trong các từ phiên âm.

 

3.6. Cách dùng chữ số

Chữ số Ả Rập dùng trong các trường hợp ghi thời gian, số lượng, diện tích, khối lượng (ví dụ: thế kỉ 20, không viết thế kỉ XX). Nếu dùng chữ số chỉ thời gian ở đầu câu thì viết: ngày 2.9.1945. Đầu mục từ không ghi các từ năm tháng, ví dụ: HỘI NGHI PARI 1972.

Chữ số chỉ số dân, diện tích, trọng lượng viết như sau: số dân 450 nghìn người; diện tích 200 nghìn km2, 100 triệu ha, v.v.

Chữ số La Mã dùng trong trường hợp ghi thứ tự trước, sau các kì họp, các sự kiện lịch sử quan trọng như Đại hội V, Chiến tranh thế giới thứ II, Quốc tế III.

 

3.7. Viết tắt

Một số chữ tắt các ngôn ngữ thường gặp, ví dụ: A. Anh, L. Latin, Đ. Đức, H. Hi Lạp, TBN. Tây Ban Nha... Các ngôn ngữ khác viết đầy đủ: Nga, Hán, Ấn Độ, Arập...

 

3.8. Sắp xếp đầu mục từ trong TĐBK VN

- Các đầu mục từ trong TĐBK VN được sắp xếp theo thứ tự bảng chữ cái ABC;

- Các đầu mục từ được sắp xếp theo trật tự thuận các thành tố cấu tạo mục từ, ví dụ: THUỶ NÔNG, THUỶ MẶC, VŨ TRỤ HỌC, THUYẾT MẶT TRỜI LÀ TRUNG TÂM…;

- Một số mục từ sắp xếp theo trật tự đảo các thành tố cấu tạo mục từ để tiện cho việc tra cứu và đảm bảo việc trình bay có thẩm mỹ;

- Các mục từ về phát minh, sáng chế, định luật, định lý, học thuyết được gắn với tên riêng của các nhà bác học phát minh ra nó, ví dụ: NIUTƠN (ĐỊNH LUẬT);

- Các cụm từ chỉ địa danh trong ngành địa lý như sông, biển, hồ để như sau ÔKHÔT (BIỂN). Nhưng các trường hợp BIỂN ĐÔNG, BIỂN CHẾT, BIỂN ĐỎ thì giữ nguyên. Đối với tên quốc gia, để đầu mục từ ở dạng rút gọn, ví dụ PHÁP (Cộng hoà Pháp), VIỆT NAM (Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam);

- Các danh từ loại thể như con, cây, cá, bệnh, chim… thì có thể lược bỏ hoặc chuyển vào phần giải thích nội dung mục từ.

Trường hợp gây hiểu nhầm thì không thể lược bỏ, ví dụ: BỆNH DẠI, CÁ VOI

– Các mục từ chuyển chú thường dành cho các tên gọi cũ và mới, các mục từ đồng nghĩa, các mục từ viết tắt: ISO x. Tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế; THỞ x. Hô hấp; TIÊU ĐỘC x. Tẩy uế, Tiệt khuẩn.

 

3.9. Thư mục, trích dẫn tài liệu

Việc lựa chọn mục từ cũng như giải thích các mục từ nhất thiết phải căn cứ vào ác tài liệu, những tác phẩm, những công trình nghiên cứu đã được đánh giá, tổng kết hoặc đã được xã hội thừa nhận trong từng giai đoạn lịch sử nhất định. Tất nhiên được chú ý nhất là những đánh giá hiện nay. Gặp những trường hợp đang còn phải nhận thức lại, đang được tranh luận thì phải cân nhắc thận trọng. Khi biên soạn, biên tập từ điển bách khoa, các tác giả, các biên tập viên cần phải ghi rõ danh mục các tài liệu, tác phẩm dùng làm căn cứ biên soạn, biên tập; các số liệu đưa vào từ điển bách khoa phải đảm bảo hoàn toàn chính xác, chỉ rõ năm thống kê gần nhất và được kiểm tra lại trước khi in.

Hình thức trình bày TĐBK VN, kỹ thuật in rõ ràng, đẹp và kỹ thuật, hấp dẫn người đọc.

 

3.10. Sơ đồ các mục từ

Để thống nhất cách biên soạn, Bản thể lệ biên soạn TĐBK VN gợi ý một số sơ đồ các mục từ sau đây:

+ Mục từ tiểu sử danh nhân

- Họ tên (biệt hiệu, bút danh, nguyên dạng tên nước ngoài);

- Năm sinh, năm mất (đối với một số lãnh tụ, nhân vật nổi tiếng ghi ngày, tháng năm sinh, nơi mất);

- Quốc tịch, dân tộc, tôn giáo (nếu có);

- Quá trình hoạt động chính tri, xã hội, văn hoá, khoa học, quân sự (những mốc thời gian chính, chức vụ chính);

- Những thành tựu, những cống hiến, những sáng tạo khoa học, văn hoá, nghệ thuật, quân sự;

- Khen thưởng, giải thưởng quốc gia, quốc tế;

- Đánh giá, bình luận (không bắt buộc, tuỳ theo từng loại danh nhân).

+ Các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể, hiệp hội

- Tên gọi. Tính chất giai cấp;

- Năm thành lập, mục đích thành lập;

- Cương lĩnh chính trị (nếu có);

- Quá trình hoạt động và thành tích;

- Người đứng đầu;

- Thời gian địa điểm, phạm vi hoạt động và năm chấm dứt hoạt động (nếu có);

- Khen thưởng.

+ Mục từ thuật ngữ chuyên ngành (tất cả mọi ngành khoa học kỹ thuật)

- Định nghĩa;

- Tầm quan trọng của thuật ngữ (trong chuyên ngành, trong bộ môn hoặc trong học thuyết…) và ý nghĩa thực tiễn;

- Lịch sử hình thành thuật ngữ (nếu có): thời gian xuất hiện, quá trình phát triển, quan niệm hiện tại;

Mục từ khái niệm đề tài (chủ yếu dành cho các ngành khoa học xã hội)

- Định nghĩa, giải thích;

- Lịch sử hình thành khái niệm (nếu có): thời gian xuất hiện, quá trình phát triển, quan niệm hiện tại;

- Vận dụng vào Việt Nam. Số liệu cụ thể (theo năm thống kê gần nhất).

Mục từ định luật, nguyên lý (chủ yếu cho các ngành khoa học tự nhiên)

- Nội dung định luật, nguyên lý;

- Tầm quan trọng. Quan hệ với các định luật khác. Ý nghĩa khoa học và ứng dụng;

- Tên nhà bác học phát minh (vào năm nào). Phương pháp nghiên cứu (nếu có);

Ngoài ra, còn có gần 40 sơ đồ của các chuyên ngành khoa học khác nhau như vật lý, toán học, văn học, ngôn ngữ học, địa chất, thuỷ lợi, điện năng, kiến trúc, âm nhạc … để các ban biên soạn có thể dựa vào đó mà soạn các mục từ của mình.

 

4. Kết luận

4.1. Ưu điểm và thành công của TĐBK VN

– Yêu cầu biên soạn một bộ từ điển bách khoa mang tính thông dụng thường phân chia thành nhiừu chuyên ngành. Việc tổ chức biên soạn nói chung đã chọn và giao phó cho những nhà khoa học đầu ngành. Các ban biên soạn chuyên ngành đã tập hợp được nhiều nhà khoa học, văn hoá có năng lực và xây dựng được một mạng lưới cộng tác viên tâm huyết;

– Các trưởng ban biên soạn chuyên ngành giữ một vai trò rất quan trọng, là người chịu trách nhiệm cao nhất trong lĩnh vực chuyên môn được phân công. Ban biên soạn chuyên ngành đã được đặt đúng vị trí và vai trò, đã phát huy được trách nhiệm. Đó là hướng chỉ đạo và phương thức biên soạn đúng;

– Việc xây dựng Thể lệ biên soạn là một công đoạn hết sức quan trọng. Đây là những nguyên tắc và quy định cụ thể bảo đảm sự nhất quán trong yêu cầu về nội dung và cách thức biên soạn công trình. Từ thể lệ 1989 đến năm 1998 được bổ sung thêm một số nguyên tắc về chính tả, phiên âm, phiên chuyển tiếng nước ngoài và chuyển chú. Việc xây dựng, ban hành thể lệ biên soạn và kịp thời bổ sung thêm là bước đi đúng quy trình biên soạn và tạo lập nên cơ sở bảo đảm tính khoa học và tính nhất quán của công trình được tiến hành trong sự hợp tác của hàng chục ban chuyên ngành và hơn một nghìn nhà khoa học. Còn việc chuẩn hoá tiếng Việt và thuật ngữ các ngành khoa học là công việc cần tiếp tục trong các công trình từ điển bách khoa và bách khoa thư sau này;

– Ban biên soạn đã dành thời gian hơn 2 năm để xây dựng bảng mục từ theo nguyên tắc và thể lệ thống nhất trong Thể lệ biên soạn. Khoảng 5 vạn mục từ đã được phân bổ tương đối hợp lý cho các lĩnh vực khoa học xã hội, văn học nghệ thuật, khoa học tự nhiên và công nghệ cũng như giữa các chuyên ngành, giữa mục từ Việt Nam và thế giới. Trong quá trình biên soạn, số lượng mục từ và số mục từ có thể thay đổi, bổ sung hoặc lược bỏ, nhưng việc sớm xác lập được bảng mục từ là bước đi đúng quy trình khoa học và là cơ sở cơ bản bảo đảm công việc biên soạn được thống nhất sau đó;

– Một đặc điểm lớn của Hội đồng chỉ đạo cũng như ban biên soạn là gồm những nhà khoa học không chuyên trách, nên vai trò các thư kí khoa học và cán bộ biên tập chuyên nghiệp là rất cần thiết và đã hỗ trợ có hiệu quả cho công việc biên soạn và hoàn chỉnh bản thảo.

 

4.2. Một số vấn đề đặt ra

– Do lần đầu tiên được tổ chức biên soạn TĐBK VN nên khó tránh những hạn chế nhất định như công việc xây dựng bảng mục từ chưa được quan tâm ngay từ đầu. Từ đó dẫn đến tính thiếu đồng bộ, hệ thống của tập hợp các mục từ, trong một số ngành, lĩnh vực, số lượng mục từ nhiều và ở mức quá chi tiết, trong khi đó, ở một số ngành khác, số lượng mục từ còn là chưa đủ;

– Trong quá trình biên soạn, bảng mục từ ban đầu được hoàn chỉnh dần, có những thay đổi do các ban biên soạn chuyên ngành đề xuất. Những điều chỉnh như vậy là tất yếu trong việc biên soạn các công trình khoa học, nhưng do sự chỉ đạo còn thiếu nhất quán nên một số mục từ bổ sung về nhân vật, tổ chức, tạp chí, nhà xuất bản…lại dẫn đến sự mất cân đối giữa các ngành và giữa Việt Nam và thế giới;

– Trong thời gian xây dựng bảng mục từ, đã thành lập các ban biên soạn liên ngành nhằm giải quyết một cách cân đối và khoa học những mối quan hệ liên ngành, nhằm bảo vệ tính nhất quán trong một công trình khoa học mang tính đa ngành và liên ngành cao như từ điển bách khoa. Nhưng đến giai đoạn điều chỉnh tập 1, vì các ban biên soạn liên ngành bị giải thể, nên đã gặp khó khăn trong việc lựa chọn và phân công biên soạn các mục từ: rất nhiều mục từ do các ban biên soạn chuyên ngành viết có nội dung liên quan đến chuyên ngành khác hay những mục từ trùng lặp của các chuyên ngành không có một tổ chức mang tính liên ngành xử lý, tính mất cân đối của các mục từ theo hệ thống ngành, chuyên ngành,...;

– Theo kế hoạch ban đầu, công việc bien soạn dự kiến sẽ hoàn thành trong các năm 1988-1990 và công việc xuất bản từ năm 1991. Rõ ràng đây là kế hoạch chưa dựa trên cơ sở khoa học với những tính toán đầy đủ về những điều kiện và tiến độ triển khai công trình. Do đó phải đến năm 1995 bản thảo tập 4 mới biên soạn xong và mới xuất bản được tập 1. Nhưng điều cần nhấn mạnh là từ đó trở đi, công việc hoàn chỉnh bản thảo các tập tiếp theo đã kéo dài và kế hoạch luôn thay đổi theo hướng lùi dần về thời gian. Như vậy, công trình biên soạn và xuát bản bộ TĐBK VN, 4 tập với khoảng 4 vạn mục từ và mỗi tập khoảng trên dưới 1 vạn mục từ và khoảng 1.000 trang phải kéo dài 17 năm. Với khoảng thời gian biên soạn quá dài như vậy, đã gây ra rất nhiều trở ngại, khó khăn cho việc bổ sung, cập nhật thông tin và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng, đến với những người trực tiếp tham gia biên soạn và nhất là gây nên tác động không nhỏ đến sự mong đợi của đông đảo bạn đọc trong và ngoài nước. Tình trạng trên do nhiều nguyên nhân gây nên, trong đó có những nguyên nhân khách quan (vì lần đầu tiên biên soạn từ điển bách khoa), nhưng cũng có một phần quan trọng từ nguyên nhân chủ quan từ phía một số người tham gia trực tiếp;

– Ban biên soạn đã tập hợp được sự tham gia của đông đảo các nhà khoa học. Nhưng sự tham gia của các nhà khoa học ở TP Hồ Chí minh và miền Nam nói chung còn ít, dù điều đó một phần là do những khó khăn về mặt địa lý. Rõ ràng hạn chế này ảnh hưởng đến chất lượng biên soạn các mục từ về miền Nam và làm cho công trình chưa phát huy hết trí tuệ của giới khoa học, văn hoá cả nước.

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Encyclopaedia Britannica, xuất bản lần thứ 15.

[2] Trung tâm Biên soạn TĐBK VN, Thể lệ biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam, Hà Nội, 1989.

[3] Viện Ngôn ngữ học, Nguyễn Kim Thản - Tuyển tập, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2003.

[4] Từ điển Bách khoa Việt Nam, 4 tập, Trung tâm Biên soạn TĐBK VN, Hội đồng Quốc gia Chỉ đạo biên soạn TĐBK VN, NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 1995-2005.

 

Tạp chí Từ điển học & Bách khoa thư, số 2 (22) 2013