Một góc nhìn chính tả trong biên soạn bách khoa thư Việt Nam

26/11/2017
Tống Duy Thanh - GS TSKH Địa chất học, Đại học Quốc gia Hà Nội, nguyên Phó Trưởng ban Biên soạn ngành Địa chất - Từ điển Bách khoa Việt Nam.

1. Một vấn đề cấp thiết

Vấn đề chính tả tiếng Việt có nhiều nội dung lớn và được quan tâm ở những góc độ khác nhau. Trong phạm vi bài báo nhỏ này người viết chỉ xin được giới hạn trong phạm vi liên quan đến việc viết thuật ngữ khoa học và tên người, địa danh.

Hiện nay trên các phương tiện thông tin như báo chí, phát thanh và truyền hình, cũng như trong các ấn phẩm của các nhà xuất bản, cách viết và đọc rất khác nhau đối với thuật ngữ khoa học và tên người, địa danh. Thậm chí có khi trong cùng một bài báo, một tờ báo cách viết cũng rất tùy tiện đối với các đối tượng này.

Việc nhất quán trong cách viết thuật ngữ khoa học, địa danh và tên người trong một cuốn sách, một công trình khoa học là điều có ý nghĩa rất lớn để chuyển tải nội dung và chất lượng của công trình. Do vậy, đối với một công trình do hàng trăm người (thậm chí cả nghìn người) cùng tham gia viết như bộ sách “Bách khoa thư Việt Nam” đang được chuẩn bị biên soạn thì một “Quy định thống nhất cách viết thuật ngữ khoa học, địa danh và tên người” là một nhu cầu cấp thiết.

Nhằm đóng góp một phần nhỏ bé cho nhu cầu cấp thiết đó, trong bài này người viết xin trình bày cách thức mà mình đã cùng đồng nghiệp qua nửa thế kỉ công tác trong lĩnh vực Địa học (chủ yếu là Địa chất học) đã đi đến đồng thuận trong cách viết thuật ngữ, địa danh và tên người, nhất là đối với trường hợp có yếu tố nguồn gốc từ tiếng nước ngoài.

Ngôn ngữ tiến hóa theo sự phát triển của nền văn hóa chung của một dân tộc, một nước. Cho đến đầu thế kỷ trước, ở ta phổ biến cách viết những thuật ngữ khoa học và nhất là tên người, địa danh có nguồn gốc nước ngoài theo cách phiên âm qua chữ Hán và đọc theo âm Hán Nôm, nói cách khác - viết và đọc theo âm đọc chữ Nho. Cách viết và đọc như vậy ngày nay không còn phù hợp nữa và một cách tự nhiên đã được thay đổi. Những địa danh và tên người nước ngoài như Tây Bá Lợi Á, Á Căn Đình, Tư Đại Lâm, v.v.  nay đã xa lạ với mọi người và được thay bằng Siberie, Achentina hay Argentina, Stalin...

Mở đầu cho cách viết thuật ngữ khoa học bằng tiếng Việt là “Danh từ khoa học” của Hoàng Xuân Hãn được xuất bản từ những năm 40 của thế kỉ trước và sau đó là “Danh từ Vạn vật học” của Đào Văn Tiến. Tiếp nối công việc này, từ nửa sau của thế kỉ 20, hàng loạt Từ điển song ngữ chuyên ngành được biên soạn và xuất bản đã đáp ứng cho nhu cầu phát triển nhanh của khoa học, kĩ thuật của Việt Nam.

 

2. Viết địa danh và tên người

2.1. Địa danh và tên người Việt Nam

Quy định tạm thời về viết hoa trong văn bản của Chính phủ và Văn phòng Chính phủ” (Thông tư 01/2011/TT-BNV ngày 19-1-2011 của Bộ Nội vụ) và văn bản kèm theo (Dưới đây viết tắt là “Quy định tạm thời”), là một bước để tiến tới thống nhất cách viết tên người và địa danh Việt Nam. Tuy cũng còn có nhiều điều nên bàn thảo thêm, nhưng trong phạm vi bài viết này chỉ xin trao đổi về một vài trường hợp cụ thể.

Đối với tên người Việt Nam, hiện nay đã có sự nhất quán là viết hoa tất cả các con chữ cấu thành họ và tên như Lê Văn Thiêm, Huỳnh Văn Tiểng, Ngụy Như Kon Tum, Tôn Nữ Nguyệt Minh, Ksor Ní, HơBia Blao, HơBia Ju, Kbuôr, Giàng A Páo v.v. Ngày nay không ai còn viết dấu gạch ngang giữa các con chữ tên người thuở xưa nữa.

Theo “Quy định tạm thời” về viết hoa tên địa lí thể hiện ở Điểm d mục III.1. Tên địa lí được cấu tạo giữa danh từ chung chỉ địa hình (sông, núi, hồ, biển, cửa, bến, cầu, vũng, lạch, vàm…) với danh từ riêng (có một âm tiết) trở thành tên riêng của địa danh đó: viết hoa tất cả các chữ cái tạo nên địa danh. Ví dụ: Cửa Lò, Vũng Tàu, Lạch Trường, Vàm Cỏ, Cầu Giấy...

Lâu nay phổ biến cách viết sông Hồng, sông Mã, núi Pháo v.v., nhưng trong Địa chất học khi đề cập đến các cấu trúc địa chất liên quan với địa danh đều phải viết hoa cả các từ như đứt gãy Sông Hồng, đứt gãy Sông Mã, granit Núi Pháo v.v.  Chúng tôi nghĩ quy định ở “Điểm d mục III.1” trong thông tư 01/2011/TT-BNV là hợp lí và cần áp dụng rộng rãi trong nhiều trường hợp tương tự về sông, núi, bản, buôn v.v. Ví dụ Núi Pháo, Sông Đà, Sông Mã, Bản Nậm Xe, Buôn Đôn, Suối Nho, Đắk Song, Đắk Nông, v.v.

Tên các thiên thể của hệ Mặt Trời. Lâu nay tên các thiên thể của hệ Mặt Trời được viết mỗi người một kiểu như sao Kim, sao Thổ nhưng lại viết Trái đất, Mặt trời, Mặt trăng v.v. Có lập luận rằng trong tên gọi sao Kim, sao Thổ v. v. thì sao là danh từ chung nên không viết hoa. Nếu theo lập luận này thì chắc rằng cũng phải viết trái Đất, mặt Trời, mặt Trăng! Cách viết như vậy khó có thể nhận được sự đồng thuận. Lại cũng có người nói là nên viết Kim tinh, Thổ tinh v.v., cách này đi ngược với xu hướng Việt hóa nên càng khó có thể chấp nhận.

Thiết nghĩ, đối với các thiên thể của hệ Mặt Trời ta cũng nên áp dụng theo “Quy định tạm thời” và văn bản kèm theo (điểm d mục III.1). Cụ thể là nên viết hoa cả hai con chữ Mặt Trời, Mặt Trăng, Trái Đất, Sao Kim, Sao Thổ, Sao Hỏa, v.v.

 

2.2. Địa danh và tên người nước ngoài

2.2.1. Sự trớ trêu - người Việt viết theo cách đọc ngoại lai

- Ảnh hưởng của cách đọc theo âm Hán Nôm (đọc theo chữ Nho). Đã một thời, thuật ngữ khoa học, địa danh và tên người nước ngoài được viết theo cách phiên âm của chữ Hán và đọc theo chữ Nho (Hán Nôm) mà ngày nay trở nên lạ lẫm, như vừa nêu trên đây.

- Ảnh hưởng của cách đọc của tiếng Pháp. Sau thời đọc thuật ngữ khoa học, địa danh, tên người có nguồn gốc nước ngoài theo ảnh hưởng của chữ Nho, đến lượt ảnh hưởng theo cách đọc na ná theo cách đọc trong tiếng Pháp.

Đã có nhiều điều trớ trêu, như tên gọi một số loại đá đã được viết để đọc a á theo tiếng Pháp, ví dụ như tên các đá bazan và anđezit chẳng hạn. Các nước dùng mẫu tự Latin đều viết tên các loại đá này lả basalt và andesit, nhưng mỗi nước đọc theo cách của họ; người Pháp đọc loại đá thứ nhất là ba-zalt, người Anh đọc là bei-solt. Còn đá andesit người Pháp đọc là ang-đe-zit, người Anh đọc là aen-đơ-sait. Vậy trong tiếng Việt ta nên viết basalt và đọc là ba-salt, viết andesit và đọc là an-đe-sit. Hoặc trường hợp khác - thuật ngữ Frasni người Pháp, người Bỉ viết là Frasnien và đọc là Fra-nien còn người Anh-Mỹ viết là Frasnian và đọc là Fras-nian, còn người Việt hiện viết và đọc là Frasni. Như vậy, không phải cách phát âm (cách đọc) mà là cách viết thuật ngữ mới là yếu tố quan trọng hàng đầu.

Ảnh hưởng phiên âm theo lối đọc của Pháp xem ra rất nặng và cho đến hiện nay vẫn đang phổ biến, gây nên những sự không hợp lí. Hiện nay lại có thêm chuyện người Việt viết và đọc tên người và địa danh của nước khác theo kiểu tiếng Anh. Điển hình là tên thủ đô nước Nga, một thời viết và đọc là Mạc Tư Khoa theo cách đọc chữ Hán Nôm, tiếp đến viết là Matscơva, Mat-xcơ-va theo cách đọc trong tiếng Nga và hiện nay trên các phương tiện thông tin lại phổ biến cách viết là Moscow theo kiểu tiếng Anh. Thậm chí tên nước Việt Nam khi viết tắt cũng lại đọc theo kiểu Anh-Mĩ - VN không đọc là vê-en mà đọc là vi-en!

 

2.2.2. Kiến nghị về viết địa danh và tên người nước ngoài

2.2.2.1. Lợi thế của chữ Quốc ngữ viết bằng mẫu tự Latin. Ngày nay Việt Nam có lợi thế rất lớn là dùng mẫu tự Latin để diễn đạt nội dung tư duy của người Việt. Bên cạnh việc biểu đạt tư duy trong tiếng nói, chúng ta còn có lợi thế là dễ dàng viết tên người và địa danh của tất cả 54 dân tộc anh em trong cộng đồng Việt. Chúng ta không gặp khó khăn gì khi viết tên người của bất kì dân tộc anh em nào, như Giàng A Páo, Ksor Ní, Ama Kông, HơBia Blao, HơBia Ju, Kbuôr, H'Ngăm Niê Kdăm v.v.  Đối với địa danh cũng vậy, những địa danh ở miền núi phía bắc như bản Lò Súi Tổng, đèo Mã Pi Lèng; hoặc ở phía nam như tên các buôn làng - A’ko Hdông, Đăk Pne, Plei Breng, Plei Jar Kdol, tên các huyện Kbang, Kông Chro, Krông Pa, Mđrăk v.v. không còn lạ lẫm với mọi người (x. Bản đồ hành chính Việt Nam). Từ đây không còn mối lo là người Việt Nam không đọc được những phụ âm kép viết liền. Cũng không còn chuyện phải kiêng viết những phụ âm như b, l, d, k, v ở cuối con chữ, hoặc viết những phụ âm nhập nội như j, w, z, v.v.

2.2.2.2. Địa danh và tên người các nước sử dụng mẫu tự Latin. Đối với các nước Âu Mĩ và một số nước châu Phi và châu Á có dùng mẫu tự Latin thì tên người và địa danh của những nước đó nên viết nguyên dạng như các nước đó viết. Ví dụ, tên người như Henri Fontaine, Jaques Duclos, Pierre Routhier; địa danh - Algerie, Marseille, Paris, Mont Blanc, Dormund, California, Texas, v.v.

2.2.2.3. Địa danh, tên người những nước sử dụng mẫu tự cyrilic và các mẫu tự khác. Tên người và địa danh của những nước dùng mẫu tự cyrilic như Nga, Bulgari, Serbi, Ukrain, Mông Cổ v.v. thì nên viết theo cách của các nước đó viết bằng mẫu tự Latin. Ví dụ: Карпинский - Karpinskij, Алексей Довжиков - Alekxej Dovzhikov, Москва - Moskva, Хабаровск - Khabarovsk, v.v.

Đối với các loại chữ khác như chữ Thái, Campuchia, Lào, v.v. địa danh và tên người cũng viết theo cách những nước đó viết bằng mẫu tự Latin (thường là viết theo Anh hoặc Pháp).

Rất nhiều thuật ngữ khoa học được đặt theo địa danh, do đó việc viết theo nguyên dạng theo mẫu tự la tin càng rất cần thiết. Có thể dẫn ra rất nhiều ví dụ thuộc loại này như kỉ Jura (theo tên dãy núi Jura giữa Pháp và Bỉ), kỉ Permi (theo tên thành phố Permi ở Nga), cấu trúc mảng Baltica (theo tên biển Baltic), hoạt động tạo núi Alpi (theo tên dãy núi Alpes), đá andesit (theo tên dãy núi Andes ở Nam Mĩ), kì Lutetien(ian) gọi theo tên Latin của thành phố Paris, kỉ Cambrien(ian) gọi theo tên Latin của xứ Wales (Tây Nam nước Anh) v.v.

Ngày nay số đông thanh niên đã được học đến bậc trung học phổ thông thì đọc những thuật ngữ này không còn là việc khó. Số đông các nhà ngôn ngữ đã có ý kiến thống nhất khi viết “Cần giữ nguyên tên riêng tiếng nước ngoài” [Hội thảo “Xây dựng chuẩn mực chính tả thống nhất trong nhà trường và trên các phương tiện truyền thông đại chúng” tại TP HCM, ngày 21-12-2012 (Báo Thanh Niên điện tử, 22-12-2012)].

Trên thế giới việc viết nguyên dạng địa danh, tên người và đôi khi cả thuật ngữ có nguồn gốc tiếng nước ngoài là hiện tượng thường gặp.

Pháp là nước có cả luật bảo vệ tiếng Pháp nhưng họ có thể viết sputnik (lấy từ tiếng Nga – спутник là vệ tinh) tuy họ đã sẵn có thuật ngữ satellite; họ viết Shakespeare (tên của đại văn hào Anh) và cũng đọc như người Anh chứ không đọc là sha-kes-pear. Ngay cả thuật ngữ như sóng thần, thì cả Anh và Pháp đều viết tsunami vốn có nguồn gốc từ chữ Nhật. Hoặc hiện tượng bão táp người Pháp vốn có chữ tempête, ouragan; người Anh có tempest, storm. Nhưng để chỉ hiện tượng tương tự ở Thái Bình Dương thì người Pháp viết typhon, người Anh viết typhoon, người Nga viết тайфун, vốn bắt nguồn từ chữ táifēng (đại phong) của tiếng Hán.

Gần đây người Pháp còn viết le nem (nem của miền Bắc hay chả giò ở miền Nam Việt Nam) thay vì rouleau impérial như trước đây, hoặc “le pho” (phở của Việt Nam) thay vì soupe chinoise như trước, “le nuoc mam” (nước mắm của tiếng Việt) thay vì “sauce de poisson”. Họ viết Le Duan (Lê Duẩn), Van Tien Dung (Văn Tiến Dũng) chứ không phiên theo cách đọc trong tiếng Pháp là Lé Zuan, Van Tien Zoung).

2.2.2.4. Viết địa danh và tên người Trung Quốc

Trước khi dùng mẫu tự Latin, người Việt Nam cả nghìn năm hoặc dùng chữ Hán hoặc chữ Nôm và đọc theo âm Hán Nôm (chữ Nho). Do đó cùng một cách viết bằng chữ Hán của một tên gọi nhưng người Trung Quốc và người Việt phát âm khác nhau. Ví dụ Beijing - Bắc Kinh, Xư Ta Lin - Tư Đại Lâm (Stalin).

Ngày nay trong cộng đồng người Việt chỉ một số rất ít người biết chữ Hán và Hán Nôm (chữ Nho), đó là những người nghiên cứu về Hán Nôm, về lịch sử và những người được đào tạo ở Trung Quốc. Trong khi đó, tuyệt đại đa số những người muốn tìm hiểu tài liệu của Trung Quốc đều phải qua nguồn văn liệu của Trung Quốc công bố bằng các tiếng Âu Tây hoặc qua nguồn tư liệu quốc tế cũng phần lớn bằng tiếng Anh. Muốn truy cập tài liệu Trung Quốc trong thư viện hoặc qua mạng Internet đều phải dùng từ khóa bằng ký tự la tin để truy cập. Nếu muốn tìm đọc về khối nền Dương Tử (Yangtze) ở Trung Quốc mà ta dùng từ khóa Dương Tử thì không thể tìm ra, mà phải dùng từ khóa Yangtze như người Trung Quốc viết bằng mãu tự Latin thì mới truy cập được. Vào thư viện, nếu tìm các tác phẩm của Thái Trọng Dương, Trần Quốc Đạt, Hoàng Cấp Thanh thì cũng không thể tìm ra vì trong thư mục chỉ có những phiếu Cai Chong-yang, Chen Guo-ta, Huang Ji-qing.

Như  vậy, địa danh và tên người Trung Quốc nên viết theo cách chính người Trung Quốc phiên bằng mẫu tự la tin. Đối với một số ít tên địa phương, tên người Trung Quốc đã quá quen thuộc thì có thể chua thêm cách viết cũ theo Hán Nôm như Bắc Kinh, Nam Kinh, Dương Tử, v.v. Các thuật ngữ địa chất cuả Trung Quốc được đặt theo tên địa phương của Trung Quốc thì không thể dùng cách phiên Hán Việt mà cần viết theo cách người Trung Quốc đã viết bằng mẫu tự Latin. Ví dụ viết nền Yangtze thay vì nền Dương Tử, hệ tầng Lianhuashan, hệ tầng Yukiang thay vì hệ tầng Liên Hoa Sơn, hệ tầng Úc Giang v.v.

Như vậy, không phải cách phát âm mà là cách viết thuật ngữ mới là yếu tố quan trọng hàng đầu để phát và thu nhận thông tin.

 

3. Viết thuật ngữ khoa học có nguồn gốc tiếng nước ngoài

3.1. Nguyên tắc chung

Thuật ngữ khoa học địa chất được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, nhưng đều được tạo thành theo 2 phương thức cơ bản.

- Thuật ngữ hóa các từ ngữ thông thường (như nếp lồi, thớ chẻ, thế nằm), v.v.

- Định nghĩa hoặc mô phỏng (như Gastropoda - Chân bụng, Pteropoda - Chân cánh, Cephalopoda - Chân đầu…), v.v.

Trong tiếng Việt có 3 yếu tố tham gia cấu tạo thuật ngữ khoa học - yếu tố thuần Việt (V), yếu tố gốc Hán Nôm hay chữ Nho (H) và yếu tố gốc Ấn – Âu (A). Các thuật ngữ sẽ được ghép các yếu tố trên theo những hình thái sau đây.

V-V

H-V

A-V

V-H-A

V-A-H

V-H

H-H

A-H

H-V-A

H-A-V

V-A

H-A

A-A

A-H-V

A-V-H

Có những thuật ngữ ghép thuần (dạng V-V, H-H, và A-A) và những thuật ngữ ghép lai (V-H, V-A, H-V, H-A, V-A-H, v.v.).

Ví dụ:

- V-V: thớ lớp, thớ chẻ, mặt cắt, đứt gãy v.v.

- V-H: vết lộ, Chân đầu, mỏ than, bồn đại dương, kiến tạo động v.v.

- V-A: đứt gãy San Andreas, vẩy mica, nước karst, mảng Nazca, v.v.

- H-H: địa hóa, thạch học, khoáng vật, kiến tạo, v.v.

- H-A: hậu magma, thể pegmatit, mảng Baltica, Nguyên đại Paleozoi, v.v.

- A-A: Aulacogen Donbas, Magma axit, v.v.

 

3.2. Thuật ngữ về khái niệm khoa học

Theo ngữ nguyên, các thuật ngữ về khái niệm khoa học thường biểu hiện ý nghĩa cụ thể nào đó, do đó để người Việt dễ tiếp thụ và cảm thụ ý nghĩa của nội dung thuật ngữ, cần dùng tiếng Việt hay nói cách khác là cần Việt hóa những thuật ngữ thuộc loại này theo các cách ghép như đã nêu trên. Tiếng Việt có đủ khả năng diễn đạt, vì vậy những cách thức dùng nguyên thuật ngữ của Tây Âu hay viết hoàn toàn theo cách chuyển chép từ chữ Hán của một thời, nay đều không còn thích hợp. Dưới đây xin nêu một số ví dụ về về cách viết các thuật ngữ theo sự đồng thuận và cải biên của giới khoa học Địa chất. Mỗi thuật ngữ trong các ví dụ đều ghi 3 cách thức viết theo thứ tự Tây-Âu, Hán-Nôm, Việt hóa (viết nghiêng, đậm và hiện đang được thông dụng): anticlinal - bối tà - nếp lồi; anticlinorium - phức bối tà - phức nếp lồi; geosynclinal - địa tào - địa máng; orogeny - tạo sơn - tạo núi; orography - sơn văn học - khoa học về núi; synclinal - hướng tà - nếp lõm; syncliorium - phức hướng tà - phức nếp lõm v.v.

Trong việc Việt hóa lại cũng cần tránh kiểu Việt hóa một cách cách quá tả đến mức ngô nghê trong văn bản khoa học. Ví dụ như một thời trên Tạp chí Địa chất đã phổ biến cách viết Việt hóa một cách thô thiển đối với các thuật ngữ khoa học như đáng lẽ là đá trầm tích lại viết là đá cặn bãđá magma – đá xi đặcquan hệ địa tầng - dan díu địa tầng v.v.

 

3.3. Tên của đá và khoáng vật

Nền tri thức chung của người Việt đã được nâng cao hơn hẳn so với thời kì đầu và giữa thế kỷ 20. Nếu trước đây số người có trình độ trung học còn hiếm thì nay số có trình độ THPT và biết ngoại ngữ (ở mức độ khác nhau và chủ yếu là tiếng Anh) đã chiếm tỉ lệ khá trong dân số. Do đó khái niệm về “đại chúng” trong văn phong khoa học cũng cần thay đổi để phù hợp với thực tiễn.

Giao lưu quốc tế ngày càng được mở rộng, nhu cầu truy cập tài liệu trên các mạng toàn cầu đã trở nên một yêu cầu hiển nhiên đối với những người muốn nâng cao trình độ và những người nghiên cứu khoa học. Do đó cần có cách viết thuật ngữ khoa học sao cho thuận lợi đối với việc cập nhật những tài liệu mới trên thế giới. Điều này cũng phù hợp với xu thế hòa nhập quốc tế rộng rãi. Vì vậy, thuật ngữ khoa học có nguồn gốc nước ngoài cần viết sao cho gọn, dễ đọc và gần với dạng chữ chung của quốc tế viết bằng mẫu tự Latin.    

 

3.4. Tránh lệ thuộc cách đọc của nước ngoài để viết thuật ngữ

3.4.1. Tránh đọc nguyên âm kép eu theo kiểu đọc của người Pháp để viết eu thành ơ trong thuật ngữ tiếng Việt. Ví dụ không biến neutron thành nơtron, neuron thành nơron, v.v.Các nước dùng mẫu tự Latin ở Âu Mĩ đều viết neutron nhưng mỗi nước đọc theo cách của mình, như người Anh đọc là niu-tron, người Đức đọc là noi-tron. Vậy ta nên viết là neutron và đọc là nêu-tơ-ron cũng được. Cũng tương tự như vậy đối với thuật ngữ neuron.

3.4.2. Tránh lệ thuộc vào cách đọc gần với Pháp để biến phụ âm r đứng sau nguyên âm thành c hoặc a, để rồi viết ar thành acer thành ecour thành uốcur thành ua v.v. Ví dụ, không viết Acgentina, mà viết Argentina; Cacbon - Carbon; Cuốc-bê - Courbet;  Pecmi - Permi, Silua - Silur, v.v.

3.4.3. Tránh đọc chữ s thành chữ z do bắt chước cách đọc của người Pháp khi s đứng giữa hai nguyên âm. Theo đó mà phiên basalt thành bazan; Mésozoique - Mezozoi; andesit - andezit, v.v.

Những nội dung chủ yếu được trình bày trong bài báo này được đúc rút trong quá trình cải biên từng bước, từng thời kì, từ giữa những năm 50 của thế kỉ trước, khi việc giảng dạy và xuất bản kết quả nghiên cứu Địa chất học bằng tiếng Việt được phổ biến rộng rãi. Sự đồng thuận trong sử dụng thuật ngữ cũng được thay đổi, cải biến dần, thể hiện trong các Từ điển song ngữ Địa chất Nga-Việt (Chủ biên Trương Cam Bảo - 1970), Từ điển Anh-Việt Địa chất và Khoa học Trái Đất (Lê Như Lai, 2003; Phan Cự Tiến, 2005; Vũ Khúc, 2005; Tống Duy Thanh và nnk, 2008).[1]   

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Cần định chuẩn cách dùng tiếng Việt, Báo Thanh Niên điện tử, 22-12-2012.

[2] Đinh Văn Đức, 2012, Chính tả Việt Nam nhìn từ bản ngữ: Trường hợp ghi tên riêng nước ngoài bằng chữ Việt. Tạp chí Hồn Việt, số 66, 2012.

[3] Hoàng Xuân Hãn, 1948, Danh từ khoa học, NXB Vĩnh Bảo Sài Gòn.

[4] Lê Như Lai, 2003,  Thuật ngữ các Khoa học Trái Đất Anh-Việt, NXB Xây dựng.

[5] Mathilde Tuyết Trần, 2012, Trao đổi thêm về bài viết Câu chuyện phiên âm, Tạp chí Hồn Việt, số 63, 2012.

[6] Nam Văn, 2012, Câu chuyện phiên âm, Tạp chí Hồn Việt, số 62, 2012.

[7] Nguyễn Văn Khang 2007, Về bản dự thảo Quy định cách viết, cách đọc tên riêng nước ngoài trong các văn bản quản lí nhà nước. ngonngu.net, 2007/03/22.

[8] Phạm Văn Tình, 2012, Tiếng Việt: Sự trong sáng và vấn đề chuẩn hóa, Chinhphu.vn, 31-12-2012.

[9] Phạm Văn Tình, 2012, Tiếng Việt: Vấn đề tranh cãi – Phiên âm, chuyển tự hay để nguyên dạng? Chinhphu.vn, 31-12-2012.

[10] Phan Cự Tiến, 2005, Từ điển giải thích Khoa học Trái Đất Anh-Việt và Việt-Anh, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội.

[11] Tống Duy Thanh, Đào Đình Bắc, Trương Quang Hải, Phạm Văn Huấn, Nguyễn Ngọc Khôi, 2008, Từ điển Anh-Việt Khoa học Tự nhiên, tập 5, Khoa học Trái Đất, NXB Giáo dục, Hà Nội. 

[12] Viết hoa trong văn bản hành chính (Kèm theo Thông tư số 01/2011/TT-BNV ngày 19-1-2011 của Bộ Nội vụ).

[13] Vũ Khúc, 2005. Từ điển Địa chất Anh-Việt, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.

[14] Vũ Kim Bảng, “Loạn” phiên âm: Giới ngôn ngữ học bức xúc, Báo Thanh Niên điện tử, 4-5-2012.

 

 Tạp chí Từ điển học & Bách khoa thư, số 4 (24) 2013

 

 


[1] Người viết chân thành cảm ơn các nhà Ngôn ngữ học: GS TS Đinh Văn Đức và GS TS Vũ Đức Nghiệu (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐHQG Hà Nội, đã đọc bản thảo và cho những góp ý quý báu để hoàn chỉnh bài báo này.