Sách dẫn (Index) trong bách khoa thư và bách khoa toàn thư

24/11/2017
Trần Thị Liên Hoa - Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam; Email: hoatranthilien@yahoo.com.

1. Mở đầu

Bách khoa toàn thư là loại sách công cụ hoàn bị nhất, thu thập tri thức của nhân loại thuộc tất cả các ngành khoa học (bách khoa toàn thư tổng hợp) hoặc tri thức của một ngành khoa học (bách khoa toàn thư chuyên ngành). Đây là loại sách công cụ nên bách khoa toàn thư có nhiệm vụ cung cấp thông tin, tư liệu để độc giả tra cứu, tìm đọc. Bên cạnh đó, với chức năng giáo dục, đào tạo, bách khoa toàn thư có nhiệm vụ cung cấp những tri thức hoàn chỉnh, có tính hệ thống. Để đảm bảo thực hiện tốt hai chức năng tra cứu và giáo dục đào tạo, vấn đề làm sao để từ một khối lượng khổng lồ các tri thức đa ngành hay chuyên ngành của nhân loại có thể đựơc tra cứu một cách dễ dàng, chính xác; làm sao để những tri thức đó được kết nối một cách logic với nhau theo trật tự của một chuyên ngành hay đa ngành. Đó là một trong những khâu quan trọng của nghiệp vụ làm từ điển nói chung và bách khoa toàn thư nói riêng – Sách dẫn (Index), một bộ phận hỗ trợ đắc lực giúp cho chức năng tra cứu và giáo dục đào tạo của bách khoa toàn thư thực sự được phát huy.

2. Vai trò của Index

Trong thời cổ đại và trung đại, bách khoa toàn thư có chức năng chủ yếu là giáo dục và được biên soạn theo các chủ đề. Bách khoa toàn thư cận đại có đặc điểm chủ yếu là sách công cụ để tra cứu, vì vậy trong thời kì này nhìn chung đã chuyển từ phương thức biên soạn theo chủ đề sang phương thức biên soạn theo mục từ, trong đó các mục từ được sắp xếp theo thứ tự chữ cái. Nhưng điều cơ bản phải thấy rõ rằng, dù có được biên soạn ở hình thức nào đi chăng nữa, bách khoa toàn thư vẫn phải là loại sách công cụ đảm bảo đầy đủ cả hai chức năng: giáo dục, tự bồi dưỡng và chức năng tìm kiếm, tra cứu thông tin, tri thức một cách dễ dàng và nhanh chóng. Việc cùng một lúc thực hiện cả hai chức năng này trong quá trình biên soạn bách khoa toàn thư theo hình thức mục từ thường mâu thuẫn nhau. Chức năng giáo dục đòi hỏi phải đảm bảo tính hệ thống, tính hoàn chỉnh của tri thức, cần phải có những chủ đề rộng và cần những mục từ lớn (ở tầng bậc trên). Chức năng tra cứu lại cần phải đảm bảo tính thuận tiện, nhanh chóng trong việc tìm kiếm thông tin, đọc nhanh, hiểu nhanh, do đó cần phải có nhiều mục từ, mục từ thường ngắn và các chủ đề với nội dung hẹp.

Vì vậy, ngoài nội dung chính là các mục từ, còn gọi là chính văn, các bách khoa toàn thư hiện đại còn có thêm nhiều phần phụ bổ sung nhằm tăng cường chức năng tra cứu, tìm kiếm và hiệu quả sử dụng của sách. Các phần phụ đó bao gồm: Lời nói đầu, bảng chỉ dẫn, mục lục phân loại mục từ, tranh ảnh minh hoạ và phụ bản màu, hệ thống chuyển chú, thư mục tham khảo, tập bản đồ, sách dẫn, vv.Trong đó sách dẫn là bộ phận phụ quan trọng nhất

Lịch sử phát triển của bách khoa toàn thư đã có tác dụng thúc đẩy mạnh mẽ đến sự hoàn thiện của sách dẫn và ngược lại, sách dẫn cũng đã trở thành một bộ phận quan trọng không thể thiếu được của bách khoa toàn thư. Có thể nói: sách dẫn là chìa khoá mở cửa vào kho tàng tri thức của nhân loại một cách nhanh chóng và thuận lợi nhất.

Do đó, việc biên soạn sách dẫn bách khoa toàn thư cũng là một trong những nhiệm vụ quan trọng của những người biên soạn bách khoa toàn thư.

Trong bách khoa toàn thư, vai trò kết nối các tri thức của những mục từ nằm trong bảng mục từ và những tri thức không phải là mục từ độc lập, nằm rải rác trong nội dung các mục từ hoặc trong các chủ đề (viết dưới dạng chủ đề) chính là các hệ thống chuyển chú, các tranh ảnh minh hoạ và bảng chỉ dẫn. Mỗi loại công cụ kể trên có khả năng thực hiện chức năng kết nối các tri thức trong bách khoa toàn thư riêng.

Hệ thống chuyển chú nhằm liên kết với nhau các tri thức (đơn nguyên tri thức không cấu tạo đầu mục từ, mục từ) nằm rải rác, tản mát khắp nơi trong bộ sách, giúp độc giả khả năng hệ thống hoá các tri thứcthuộc một chủ đề nào đó. Thường dùng các chưx, X (xem), xt, Xt (xem thêm) hoặc các kí hiệu để biểu hiện quy trình tra cứu ở một địa chỉ khác, “chuyển chú”.

Tranh ảnh minh hoạ và phụ bản màu đã trở thành một tiêu chí để đánh giá bách khoa toàn thư hiện đại. Tuy nhiên, trong bách khoa toàn thư tổng hợp mà đối tượng là người lớn thì kênh chữ vẫn là chủ đạo, kênh hình chỉ là phần phụ bổ sung cho kênh chữ, giúp độc giả hiểu kĩ hơn nội dung kênh chữ hoặc bản thân kênh hình cũng mang thông tin cho độc giả về tri thức, chỉ cần xem hình cũng có thể hiểu được nội dung sự vật.

Sách dẫn là bộ phận phụ quan trọng nhất. Trường hợp bách khoa toàn thư chỉ gồm một tập thì sách dẫn sẽ được in ở cuối sách và có tên là “Bảng phân tích chỉ dẫn nội dung”. Tuy nhiên, loại sách dẫn chủ yếu có vai trò kết nối lớn nhất trong bách khoa toàn thư là sách dẫn phân tích đơn nguyên tri thức chỉ dẫn trong nội dung. , tức thông qua việc phân tích nội dung của mục từ, trích rút ra những đơn nguyên tri thức, những sự vật có thể tham khảo được, những cứ liệu có thể dùng được rồi sắp xếp lại, theo thứ tự chữ cái , có đánh số trang để tiện tra cứu.

Ngày nay, sách dẫn đã trở thành một môn học thuật có cơ sở lí luận được phát triển ở nhiều nước. Từ những năm 60, 70 của thế kỉ 20, các nước Anh, Hoa Kì đã lập ra các hiệp hội khoa học về sách dẫn và có nhiều ảnh hưởng về học thuật trên thế giới.

Chắc chắn là index đã đóng vai trò quan trọng làm công cụ kết nối giữa các đơn nguyên tri thức trong bách khoa toàn thư. Ngay từ năm 1614, giám mục ở Pentina, Antôniô Zara đã sử dụng loại index đơn giản trong cuốn “ Giải phẫu của tài năng và khoa học” (Anatomy of Talents and Sciences) . Giáo sư người Hi Lạp Jôhan Jacôp Hôpman đã biên soạn bổ sung phần Index cho cuốn Từ điển phổ thông (Lexicon universale) của ông vào 1677. Cuốn “Bách khoa toàn thư” (Encyclopédie) gồm 33 tập cũng có 2 tập Index mang tên “Bảng phân tích và kết quả” (Table analytique et raisonnée). Bản thứ 2 của Britannica (1778-84) cũng có một cuốn index giành riêng cho những mục từ dài nằm trong bộ sách. Còn bản thứ 7 của bộ Britannica (1830-42) lại có một cuốn Index dùng cho toàn bộ sách, đây là cuốn Index độc lập đầu tiên của một bộ bách khoa toàn thư trong lịch sử bách khoa toàn thư, trước đó Index chỉ được biên soạn dưới dạng những bản chỉ dẫn đơn sơ. Những bảng chỉ dẫn này đóng vai trò như bước đệm cho công nghệ làm Index một cách hoàn tất và đầy đủ sau này. Phải đến tận thế kỉ 19 mới biên soạn được những cuốn index thực sự hoàn hảo cho những bộ bách khoa toàn thư. Đến thế kỉ 20, các bộ bách khoa toàn thư đều có kèm theo Index, vì với một công cụ chỉ dẫn hết sức tinh tế, những công cụ hết sức giản đơn , các cuốn Index đã chỉ dẫn cho độc giả tiếp cận đến tri thức nhân loại một cách hệ thống nhất, đầy đủ nhất và nhanh chóng thuận tiện nhất.

3. Định nghĩa

Sách dẫn (tiếng Anh, Pháp: index). Khái niệm index xuất hiện ở Châu Âu từ đầu thế kỉ 17, nhưng lúc này index ở dạng chưa hoàn thiện và cách sắp xếp, liệt kê còn rất lộn xộn, chưa theo thứ tự chữ cái như ngày nay. Mãi đến sau khi bộ “Bách khoa toàn thư Diderot” ra đời (1772) thì việc thiết kế index mới tương đối hoàn chỉnh.

Khái niệm “index” thâm nhập vào Trung Quốc khá muộn, phải vào thời Thanh Càn Long cuối thế kỉ 18, sau khi bộ “Tứ khố toàn thư” ra đời. Mãi đến những năm 40 của thế kỉ 20 mới dùng thuật ngữ “sách dẫn”. Người Trung Quốc dùng thuật ngữ sách dẫn để chỉ thuật ngữ “index” là đúng về nội dung, vì chữ “sách” trong tiếng Trung Quốc có nghĩa là lục lọi, tìm tòi, chữ “dẫn” có nghĩa là dẫn dắt, chỉ đường. Âm đọc theo âm Hán Việt của hai chữ này là “sách dẫn”, cần lưu ý là chữ “sách” ở đây không phải là để chỉ cuốn sách.

Ở Việt Nam, sở dĩ có thuật ngữ “sách dẫn” để chỉ cho từ “index” là vì những người đưa ra thuật ngữ này đầu tiên là xuất phát từ việc muốn dùng từ Hán Việt “sách dẫn”.

Người Nhật Bản cũng dùng thuật ngữ “sách dẫn” và dùng hai chữ Hán “sách dẫn” đưa vào tiếng Nhật. Các nước dùng chữ cái Latinh hầu hết dùng thuật ngữ “index” với cách viết có khi sai khác một chút.

.Index của một cuốn sách hoặc xuất bản phẩm là một bảng gồm các chủ đề đã được giải thích trong sách, thường được sắp xếp theo thứ tự chữ cái. Bảng này thường nằm ở cuối cuốn sách, còn bảng mục lục thường nằm ở đầu cuốn sách. Index giúp cho độc giả tìm tất cả các tên riê ng và các vấn đề có đề cập trong nội dung cuốn sách. Đối với những vấn đề, còn có chua vị trí của nó trong cuốn sách, cụ thể là số trang mà các vấn đề đó được giới thiệu- đó chính là các mục từ. Trong Index của xuất bản phẩm, các thuật ngữ không có trong bảng mục từ sẽ được chỉ dẫn đến tra cứu ở mục từ mà trong nội dung có đề cập đến vấn đề đó. Việc chỉ dẫn tra cứu là một công việc đòi hỏi phải có kinh nghiệm và kĩ năng, công việc này không chỉ đòi hỏi phải nắm được ngữ nghĩa của tác giả mà còn phải thiết kế bảng chỉ dẫn cho khoa học, dễ tra cứu, sao cho các đơn nguyên tri thức gắn kết với nhau, chỉ bằng một cách duy nhất là sắp xếp chúng theo thứ tự chữ cái sao cho độc giả nhìn thấy và quan tâm ngay từ đầu khi tra cứu. Các cuốn sách sẽ cung cấp được ít thông tin cho độc giả hơn khi không được chỉ dẫn tra cứu một cách hợp lí và khoa học.

Việc chỉ dẫn cho những cuốn sách đựơc thực hiện trước khi phát minh ra công nghệ in ấn rất lâu. Vào thế kỉ 16, thuật ngữ index thường được sử dụng đúng nghĩa cho một bảng kê. Cho đến thế kỉ 17, Index đôi khi mới được xây dựng dưới dạng bảng sắp xếp theo thứ tự chữ cái. Cuốn Bách khoa toàn thư Điđơrô ( Encyclopédie, 1751-1772) đã có Index dưới dạng bảng sắp xếp theo thứ tự chữ cái. Đến 1848, Uyliam Fêđêrich Pulơ đã biên soạn Index tổng hợp cho xuất bản phẩm lưu hành rộng rãi nhất trong thời kì đó của mình. Còn có cả những Index chuyên ngành cho những lĩnh vực khác nhau như: luật, y, nghệ thuật, giáo dục, kĩ thuật, mĩ thuật công nghiệp, nông nghiệp, v.v. Tờ London Times (từ 1906) và tờ New York Times (từ 1851) cũng có Index về báo.

Ngày nay, cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, index cũng phát triển theo chiều hướng tin học hoá và được biên soạn nhờ máy tính, được xuất bản dưới dạng on line và CD-ROM. Công ti H. W. Uynxơn và R. R. Baucơ được biết đến nhờ những Index chuyên ngành ra hàng năm, đặc biệt và nổi tiếng nhất là những cuốn Index “Hướng dẫn các tác phẩm văn học cho bạn đọc” (Readers’ Guide to Periodical Literature), “Cumulative Book Index”, “Ulrich’s Int ernational P eriodicals D irectory”. Ngoài ra còn có Index cho các ảnh minh hoạ, các sự kiện nghệ thuật, các công thức, và các bộ sưu tập nguyên vật liệu khác nhau rất phổ biến. Một số cuốn Index được biên soạn dưới dạng các bảng sắp xếp theo thứ tự chữ cái, một số khác được biên soạn dưới dạng các con số, màu sắc, hoặc sơ đồ. Các tủ fís (Katalog) ở thư viện đôi khi cũng được coi là một loại Index.

Khi index được biên soạn dưới dạng một hoặc hai tập riêng thì còn có thể coi khái niệm về Index nói chung là một xuất bản phẩm để hướng dẫn, vạch ra những điểm cần thiết trong tra cứu, hay nói một cách khác là công cụ giúp cho độc giả tra cứu dễ dàng và sử dụng được tối đa lượng thông tin trong cuốn sách. Trong nội dung bao gồm những loại:

1. Một danh sách gồm các tên riêng, địa danh và những vấn đề được diễn giải trong cuốn sách, trong đó có chua số trang (hoặc có trường hợp những trang) mà vấn đề đó đã được đề cập đến.

2. Index định hướng (a thumb index)

3. Dưới dạng bảng, một hàng, hoặc mục lục (bảng liệt kê)

4. Trong tin học: là một danh sách các từ khoá kết hợp với dữ liệu hoặc hồ sơ để hỗ trợ cho việc tra cứu và tìm thông tin.

Index là một từ để chỉ đến một danh sách của các từ khoá và những điểm (vấn đề). Khi một cuốn sách hoặc một tài liệu được chỉ dẫn, những từ hoặc những câu quan trọng được ấn định và kết hợp thành một danh sách các từ khoá. Danh sách này có kèm theo số trang. Khi cần phải tìm hiểu một từ hay một vấn đề có trong danh sách này, số trang sẽ giúp ta tra cứu dễ dàng, thường bảng danh sách (index) này được sắp xếp theo thứ tự bảng chữ cái và nằm ở sau cuốn sách hoặc tài liệu.

Khi một cuốn sách hay tài liệu phức tạp được liệt kê thành từng nhóm, tất cả những từ quan trọng trong mỗi một trang sẽ trở thành những điểm nhấn nằm trong index của cuốn sách hay tài liệu đó. Các từ khoá nằm trong index thường chỉ là những từ riêng biệt, không có các giới từ xác định như “cái”, “con” , “này”, vv.

Trên đây chúng ta đã đề cập đến những vấn đề khái quát về index cho các loại xuất bản phẩm nói chung. Trong chuyên đề này chúng ta sẽ chú trọng đi sâu vào nghiên cứu những vấn đề về index trong bách khoa toàn thư.

Tóm lại, sách dẫn trong bách khoa toàn thư là công cụ chỉ dẫn dưới dạng bảng chỉ dẫn hoặc sách chỉ dẫn, gồm tên các đơn nguyên tri thức cần tra cứu, tìm kiếm địa chỉ ở trong nội dung bách khoa toàn thư. Những đơn nguyên tri thức này thường được liệt kê theo thứ tự chữ cái có kèm theo số trang, cột phải, cột trái, phía trên, phía dưới. Đơn nguyên tri thức bao gồm tên các đầu mục từ và tên các đơn nguyên tri thức không cấu tạo thành tên đầu mục từ, nằm trong nội dung các mục từ.

Đối với loại bách khoa toàn thư tổng hợp cỡ lớn với cơ cấu vừa có mục từ ngắn, mục từ trung bình và mục từ dài, số lượng đơn nguyên tri thức không cấu tạo đầu mục từ thường gấp 4 đến 5 lần số lượng đầu mục từ có trong cuốn sách.

Còn đối với loại bách khoa toàn thư tổng hợp cỡ lớ với cơ cấu mục từ ngắn thì tỉ lệ này thường nhỏ hơn.

Đối với bách khoa toàn thư tổng hợp cỡ lớn với cơ cấu mục từ dài, tỉ lệ này rất lớn, có thể lên đến 10 - 15 lần. Tỉ lệ này chính là tiêu chí để đánh giá độ sâu của sách dẫn, đồng thời để xác định quy mô của sách dẫn.

Theo một số tài liệu, thì hiện nay thu ật ng ữ “sách dẫn” được nhiều tác giả sử dụng, nhưng dư luận xã hội và nhiều nhà khoa học chưa thực sự đồng tình, nguyên nhân là do:

“Sách dẫn” (Index) thường là 1 tập, có khi 2 tập, và đây là những tập cuối cùng của các bộ bách khoa toàn thư cỡ lớn ồm v ài tập có khi lên đến vài chục tập. Trong trường hợp này có thể chấp nhận thuật ngữ “sách dẫn”, nhưng cũng ần lưu ý là có những trường hợp trong tập cuối này còn có những bảng tra cứu tham khảo khác như: thư mục tham khảo, cấu trúc hệ thống mục từ theo phân loại khoa học, giải Nôben, giải toán học Fin, các giải thưởng trong Đại hội thể thao Ôlympich, vv. N ên đối với trường hợp này, tên gọi “sách dẫn” cũng chưa thực sự chuẩn xác so với nội dung vốn có của nó.

Đối với những bách khoa toàn thư gồm từ một đến vài ba tập, ví dụ như bách khoa toàn thư các tỉnh, thành phố chỉ biên soạn từ một đến hai tập, bách khoa toàn thư chuyên ngành gồm một vài tập, sách dẫn ở dạng bảng chỉ dẫn, chiếm khoảng 20 đến 30 trang. Trong trường hợp này, nếu goi là “sách dẫn”, nếu đứng về góc độ ngôn ngữ tiếng Việt là không thể chấp nhận được, vì đây chỉ là những bảng chỉ dẫn chứ không phải là sách.

Vì vậy, có nhiều ý kiến cho rằng dùng thuật ngữ “index” để chỉ loại công cụ tìm kiếm, tra cứu này là thích hợp nhất và có thể xem như một thuật ngữ quốc tế, nhiều nước dùng chứ không riêng của nước nào. Còn nếu dùng tiếng Việt thì sẽ dùng thuật ngữ “sách dẫn” ở dạng sách và “bảng chỉ dẫn” ở dạng bảng.

4. Phân loại

Bách khoa toàn thư là một loại sách tra cứu, tuỳ theo nội dung biên soạn, hình thức biên soạn, đối tượng phục vụ mà có những loại hình và hình thức khác nhau. Vì vậy, tương ứng với những loại hình, nhu cầu của bạn đọc, đối tượng tra cứu mà ta có những loại hình index khác nhau.

Có thể điểm qua các loại hình index cho các xuất bản phẩm nói chung:

- Là những bảng tra cứu nằm sau cuốn sách. Nội dung của bảng có thể chỉ là những đầu mục từ có trong bách khoa toàn thư. Nhưng để nội dung của index sâu hơn, các đơn nguyên tri thức trong bách khoa toàn thư được xâu chuỗi với nhau một cách chặt chẽ và hợp lí để bạn đọc có thể tự học và nghiên cứu một vấn đề một cách dễ dàng, ngoài các đơn nguyên tri thức cấu tạo nên mục từ, trong nội dung index còn có những đơn nguyên tri thức chỉ nằm trong nội dung mục từ.

- Theo hình thức xuất bản: có sách dẫn phát hành riêng thành tập, có sách dẫn chỉ là một bộ phận của cuốn sách, có sách dẫn xuất bản theo định kì, có sách dẫn xuất bản không theo định kì.

- Theo đối tượng của sách dẫn: có sách dẫn của sách thông thường, sách công cụ; có sách dẫn của báo chí, của bản đồ; có sách dẫn hỗn hợp bao gồm mọi loại nguồn thông tin, từ sách, báo chí, tuyển tập hội thảo, chuyên khảo, tiêu chuẩn, vv.

- Theo phạm vi của sách dẫn: có sách dẫn nhân vật, địa danh, tác phẩm, lời trích dẫn; sách dẫn theo chủ đề (sách dẫn phân tích).

- Theo cách sắp xếp các đề mục sách dẫn: theo thứ tự chữ cái, theo thứ tự thời gian, theo chuyên đề, v.v.

- Theo phân lớp của chủ đề: loại đơn giản một lớp, loại phức tạp gồm nhiều lớp.

Đối với bách khoa toàn thư, chủ yếu sách dẫn gồm các loại theo chủ đề, sách dẫn nội dung, sách dẫn phân tích, thường các sách dẫn sắp xếp theo thứ tự chữ cái, theo phân lớp đơn giản và phức tạp.

Vào các bài sau, chúng tôi sẽ bàn kĩ về các loại index thông dụng đang được sử dụng trong các bách khoa thư và bách khoa toàn thư trên thế giới.

 

THƯ MỤC THAM KHẢO

[1] Collier’s Encyclopaedia, Macmillan Educational Company, 1987.

[2] Encyclopaedia Americana; 1967, 2000.

[3] Encyclopaedia Britannica. 15th, Chicago, New York, London, 1975.

[4] Encyclopedia Britannicca; 1998, 2003

[5] Encyclopedic dictionary

[6] Howard Jackson , Lexicography – An introduction, London and New York, 2002.

[7] The Encyclopedia Americana, Grolier Educational, 2002.

[8] The New Encyclopedia Britannica, Encyclopedia Britannica Inc., 1998.

[9] Большая Советская Энциклопедия, Изд. “Советская Энциклопедия”, Москва, 1970.

[10] Совeтский Энцклопедический Словарь, Изд. “Советская Энциклопедия”, Москва, 1986.

[11] Институт Языкознания, АН СССР (Гл. ред.: В. Н. Ярцева), Лингвистический Енциклопедический Словарь, Изд. “Советская Энциклопедия”, Москва, 1990.

 

ABSTRACTS

An index has an essential role in encyclopedia. The making for different indexes needs to rely on scales, volumes,… The paper introduces how indexes in the world (e.g. in Britain, Russia, France,..) is made as references for readers.

 

Tạp chí Từ điển học & Bách khoa thư, số 3 (23) 2013