Về bộ "Từ điển Bách khoa Việt Nam"

20/11/2017
Nguyễn Trung Thuần - Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam; Email: thuannt53@yahoo.com.vn.

1. “Từ điển Bách khoa Việt Nam” được biên soạn và xuất bản lần đầu tiên ở Việt Nam (1995 - 2005) có thể được coi là một công trình văn hoá khoa học lớn của nước ta hiện nay. Bộ từ điển gồm 4 tập, 1 tập index và 1 đĩa CD-ROM, bao gồm khoảng 4 vạn mục từ thuộc gần 40 chuyên ngành văn hoá, khoa học, kỹ thuật của Việt Nam và thế giới.

1.1. Phương châm và tôn chỉ biên soạn

Trích Lời nói đầu: “Từ điển bách khoa Việt Nam” được biên soạn lần đầu tiên ở Việt Nam là bộ từ điển bách khoa tổng hợp nhiều chuyên ngành, cỡ trung bình, có tính chất thông dụng, dùng cho đông đảo bạn đọc, chủ yếu cho những người có trình độ trung học trở lên. Từ điển có mục đích giới thiệu những tri thức cơ bản nhất về đất nước con người, lịch sử xã hội, văn hoá, khoa học, công nghệ Việt Nam xưa và nay; giới thiệu những tri thức văn hoá, khoa học và kỹ thuật của thế giới, chú ý những tri thức cần cho độc giả Việt Nam. Những tri thức đó góp phần tích cực phục vụ sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Phương châm biên soạn “Từ điển Bách khoa Việt Nam” là khoa học, cơ bản, hiện đại, dân tộc. Các tri thức được trình bày ngắn gọn, dễ hiểu bằng ngôn ngữ trong sáng.

1.2. Bộ “Từ điển Bách khoa Việt Nam” là bộ sách chiếm các kỉ lục quốc gia về:

- Quy mô tổ chức bộ máy điều hành. Bộ máy điều hành trực thuộc chính phủ, do thủ tướng trực tiếp chỉ đạo;

- Quy mô tổ chức bộ máy biên soạn. Tập hợp được đầy đủ đại diện giới khoa học trong cả nước, khoảng 40 ngành khoa học;

- Quy mô tổ chức bộ máy biên tập và thành sách. Lập cơ quan làm việc chuyên trách, tổ chức đội ngũ biên tập viên chuyên trách.

2. Quy mô tổ chức bộ máy làm việc

2.1. Quy mô tổ chức bộ máy điều hành

2.1.1. Đứng đầu là Hội đồng Quốc gia Chỉ đạo Biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam được thành lập qua các thời kỳ:

- Hội đồng Quốc gia Chỉ đạo Biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam (theo Quyết định số 163a-CT ngày 15-5-1987 và Quyết định số 288-CT ngày 4-8-1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng).

- Hội đồng Quốc gia Chỉ đạo Biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam (theo Quyết định số 112/1998QĐ-TTg ngày 30-6-1998 và Quyết định số 746/QĐ-TTg ngày 21-8-1998 của Thủ tướng Chính phủ).

2.1.2. Ban biên soạn “Từ điển Bách khoa Việt Nam” gồm: Trưởng ban biên soạn, Phó Trưởng ban biên soạn và Ủy viên (là các trưởng ban chuyên ngành).

2.1.3. Các Ban biên soạn chuyên ngành: Các Ban biên soạn Khoa học xã hội; Các Ban biên soạn Văn học nghệ thuật; Các Ban biên soạn Khoa học tự nhiên và kỹ thuật; Các Ban biên soạn liên ngành.

2.1.3. Cộng tác viên biên soạn

Cộng tác viên biên soạn được từng Ban biên soạn chuyên ngành lựa chọn trong nội bộ ngành mình.

2.1.4. Các Ban thư kí biên tập “Từ điển Bách khoa Việt Nam”: Được lập ra tương ứng với từng chuyên ngành thuộc các lĩnh vực Khoa học xã hội, Văn học nghệ thuật, Khoa học tự nhiên và kỹ thuật.

B. Giới thiệu tổng quan về các khâu thực hiện công trình “Từ điển Bách khoa Việt Nam”

1. Quy trình làm việc

Bước 1  Nghiên cứu chuẩn bị

Bước 2  Tổ chức đội ngũ biên soạn

Bước 3  Định khung sườn và chọn mục từ

Bước 4 Tổ chức bản thảo và biên soạn bản thảo

Bước 5  Gồm 2 giai đoạn:

Giai đoạn 1: Nhóm biên tập biên tập nội dung lần 1; Nhóm biên soạn chia từng phần đọc duyệt lần 1; Ban biên soạn chuyên ngành đọc duyệt lần 1;

Giai đoạn 2: Nhóm biên soạn đọc duyệt lần 2; Nhóm biên tập chia phần biên tập lần 2; Trưởng ban (phòng) biên tập biên tập lần 3; Phó tổng biên tập biên tập lần 4.

Bước 6  Biên tập kỹ thuật

Bước 7  Biên tập thành sách

Các Ban biên soạn chuyên ngành đọc duyệt phần kênh hình

Bước 8 Trưởng ban (phòng) biên tập đọc duyệt

Bước 9  Tổng biên tập đọc duyệt

Bước 10 Nhóm biên tập chỉnh sửa lần cuối, ra bản thảo cuối cùng

Bước 11  Đưa sang nhà xuất bản

Bước 12  Nhà xuất bản đọc sửa bông

2. Thiết kế tổng thể

2.1. Soạn Thể lệ nguyên tắc

2.2. Thiết kế khung sườn và lập bảng từ tổng thể

- Phân loại kiến thức, hay phân loại khoa học, là cơ sở để thiết kế tổng thể hay thiết kế khung sườn, để lập bảng mục từ tổng thể và biên soạn bộ từ điển;

- Dùng phương pháp sắp xếp theo thứ tự chữ cái để che lấp (không phải là huỷ bỏ) cơ sở khung sườn của bộ từ điển, lấy việc phân loại kiến thức với tư cách là khung sườn cơ bản (dạng hoàn thành của nó là bảng mục từ tổng thể) để làm công cụ biên soạn.

2.3. Mối quan hệ giữa phân loại khoa học với khung sườn từ điển bách khoa

- Phương pháp phân loại khoa học là cơ sở để thiết kế khung sườn cho bộ từ điển, nhưng không phải là bản thân khung sườn của bộ từ điển. Trong khung sườn bao hàm cả nhân tố “sáng tạo lại” của người biên soạn;

Vì thế, nếu tìm cách dùng phương pháp phân loại khoa học để thay thế khung sườn là không thực tế; còn nếu chỉ đơn thuần dựa vào các chuyên gia khoa học để thiết kế khung sườn, hoặc người biên soạn quên mất vai trò của từ điển bách khoa, mà cũng đứng ở góc độ nhà khoa học để xem xét vấn đề, thì khung sườn có khả năng bị thay thế bởi một phương pháp phân loại hoa học nào đó, và từ điển bách khoa có nguy cơ biến thành một thứ gì đó không phù hợp với tính chất riêng của mình.

2.4. Hệ thống phân loại khoa học được áp dụng trong bộ “Từ điển Bách khoa Việt Nam”

Chia làm 3 khối kiến thức khoa học chính:

1) Khoa học xã hội. Bao gồm các chuyên ngành: An ninh, chính trị học, dân tộc học, giáo dục học, khảo cổ học- Kinh tế học - Lịch sử - Luật học - Ngoại giao - Quân sự, Báo chí - Phát thanh - Truyền hình - Thông tấn - Di tích - Bảo tàng - Thư viện - Xuất bản - Tổ chức - Triết học;

2) Khoa học tự nhiên và kỹ thuật. Bao gồm các chuyên ngành: - Cơ học - Công nghiệp - Địa chất học - Địa lý học - Hoá học - Nông nghiệp - Sinh học - Tin học - Thể dục thể thao - Toán học - Vật lý học - Thiên văn học - Y học - Tiêu chuẩn đo lường chất lượng - Sở hữu trí tuệ - Môi trường;

3) Văn học nghệ thuật. Bao gồm các chuyên ngành: - Âm nhạc - Điện ảnh - Kiến trúc – Mỹ thuật - Múa - Ngôn ngữ học - Nhiếp ảnh - Sân khấu - Văn học.

3. Xây dựng bảng mục từ tổng hợp

3.1. Trên cơ sở Bảng cấu trúc kiến thức (hay khung sườn) nói trên, việc xây dựng Bảng mục từ tổng hợp cho bộ từ điển bách khoa này đã được tiến hành. Bảng mục từ tổng hợp này được xây dựng chủ yếu dựa theo bộ Từ điển Bách khoa Xô viết (Советский Энциклопедический Словарь - CЭC) và một vài bộ từ điển bách khoa khác, nhất là về phần thế giới.

Mục từ là đơn nguyên tra cứu cơ bản của bộ từ điển bách khoa. Mục đích của việc xây dựng khung sườn (bộ khung cơ bản để lựa chọn mục từ) cho bộ từ điển bách khoa chính là để lựa chọn mục từ, chứ không phải là để hoàn chỉnh một kiểu hệ thống phân loại khoa học và kiến thức.

Muốn có được một bảng mục từ tổng hợp đạt yêu cầu cho một bộ từ điển bách khoa tổng hợp, thì phải có được một sơ đồ hình cây các chủ đề mang tính tổng thể mẫu làm chuẩn. Rồi mỗi một chuyên ngành sẽ dựa theo đó mà lập ra được một sơ đồ hình cây cho các mục từ thuộc ngành mình.

Mấu chốt của quá trình lập bảng mục từ hay lựa chọn mục từ trong các bộ bách khoa toàn thư chính là thao tác thiết kế tầng bậc cho các mục từ, như vậy mới có thể lập được một bảng danh mục các mục từ tổng hợp đạt yêu cầu cho một bộ bách khoa toàn thư tổng hợp.

3.2. Bộ “Từ điển Bách khoa Việt Nam” có 8 loại mục từ chủ yếu sau:

- Thuật ngữ (các chuyên ngành)

- Tên người

+ Danh nhân và nhân vật chính trị, lịch sử: nhân vật lịch sử; các lãnh tụ và các nhà lãnh đạo; các nhà hoạt động cách mạng; các nhân vật chính trị phản diện; các nhà hoạt động quân sự và anh hùng liệt sĩ; các nhà khoa học; các tác giả và nhà hoạt động trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, báo chí...

- Tên đất

+ Địa lý hành chính: quốc gia, thủ đô, thành phố, tỉnh, huyện, xã...

+ Địa lý tự nhiên: châu lục, vùng địa lý, đại dương, đảo, bán đảo, quần đảo, vịnh, vũng, eo, đồng bằng, nói, rừng, sông, hồ, cao (sơn) nguyên, sa (hoang) mạc, vườn quốc gia.

- Tên tác phẩm, báo chí

- Tên dân tộc (?)

- Tên tổ chức

- Di tích, di sản: di tích lịch sử, di tích văn hoá

- Tên sự kiện, phong trào

3.3. Mỗi chuyên ngành lập bảng mục từ riêng cho ngành mình dựa theo 8 loại mục từ chủ yếu để lựa chọn các mục từ theo đúng tính chất của ngành mình. Ví dụ:

Ngành toán học sẽ lập bảng mục từ cho ngành mình theo các chủ đề sau: Thuật ngữ; Nền móng toán học; Lý thuyết số; Toán rời rạc; Đại số; Hình học và tôpô; Toán ứng dụng; Các nhà toán học; Các ấn phẩm toán học; Các tổ chức toán học trên thế giới và Việt Nam; Các sự kiện toán học nổi bật...

Ngành ngôn ngữ học sẽ lập bảng mục từ cho ngành mình theo các chủ đề sau: Thuật ngữ; Ngôn ngữ học lý thuyết (Ngữ âm học, Âm vị học, Hình thái học, Cú pháp, Ngữ nghĩa học, Tu từ học, Ngữ dụng học); Ngôn ngữ học ứng dụng (Ngôn ngữ học tâm lý, Ngôn ngữ học xã hội, Ngôn ngữ học phái sinh, Ngôn ngữ học nhận thức, Ngôn ngữ học máy tính, Ngôn ngữ học miêu tả, Ngôn ngữ học lịch sử, Từ nguyên học); Các nhà ngôn ngữ học; Các tác phẩm ngôn ngữ học; Các tổ chức ngôn ngữ học trên thế giới và trong nước; Các sự kiện ngôn ngữ học nổi bật ...

Trên cơ sở tập hợp các bảng mục từ chuyên ngành, ta sẽ xây dựng nên Bảng mục từ tổng hợp cho cả bộ từ điển.

Muốn có được Bảng mục từ tổng hợp cho đúng nghĩa, ta phải đề ra được một mô hình mẫu: Phải thiết kế được cấu trúc hình cây mang tính tổng thể làm chuẩn. Rồi một một ngành học thuật hoặc bộ môn khoa học sẽ dựa vào đó mà lập cấu trúc hình cây riêng cho mình. Khi đã có được các cấu trúc hình cây như thế, thì việc lập bảng mục từ tổng thể của bộ bách khoa thư trở nên thuận tiện, dễ dàng hơn, đồng thời bảo đảm được tính đồng bộ, cân đối giữa các ngành học thuật.

Nhưng bộ từ điển trên đã không làm được điều này. Tổng danh mục các mục từ được đưa vào từ điển chỉ thuần tuý là một phép cộng ngẫu nhiên, không qua sàng lọc các danh mục của từng chuyên ngành.

4. Một số thông tin chính về bộ “Từ điển Bách khoa Việt Nam”:

Số chữ trung bình trên 1 mục từ: 136.

Số chữ trung bình trên 1 hình minh hoạ: 1.125.

Số liệu thống kê chi tiết các chuyên ngành:

1. An ninh: số lượng mục từ = 400; số người viết = 54.

2. Chính trị học: số lượng mục từ = 300; số người viết = 54.

3. Dân tộc học: số lượng mục từ = 500; số người viết = 28.

4. Giáo dục học: số lượng mục từ = 529; số người viết = 21.

5. Khảo cổ học: số lượng mục từ = 554; số người viết = 6.

6. Kinh tế học: số lượng mục từ = 1.872; số người viết = 58.

7. Lịch sử: số lượng mục từ = 3.000; số người viết = 40.

8. Luật học: số lượng mục từ = 960; số người viết = 23.

9. Ngoại giao: số lượng mục từ = 433; số người viết = 27.

10. Quân sự: số lượng mục từ = 1.764; số người viết = 57.

11. Báo chí, Phát thanh, Truyền hình, Thông tấn xã: số lượng mục từ = 360; số người viết = 30.

12. Di tích, Bảo tàng, Thư viện, Xuất bản: số lượng mục từ = 350; số người viết = 31.

13. Tổ chức: số lượng mục từ = 500; số người viết = 16.

14. Triết học: số lượng mục từ = 1.100; số người viết = 34.

15. Âm nhạc: số lượng mục từ = 800; số người viết = 5.

16. Điện ảnh: số lượng mục từ = 500; số người viết = 9.

17. Kiến trúc: số lượng mục từ = 800; số người viết = 9.

18. Mỹ thuật: số lượng mục từ = 1.135; số người viết = 23.

19. Múa: số lượng mục từ = 300; số người viết = 5.

20. Ngôn ngữ học: số lượng mục từ = 1225; số người viết = 9.

21. Nhiếp ảnh: số lượng mục từ = 300; số người viết = 4.

22. Sân khấu: số lượng mục từ = 810; số người viết = 12.

23. Văn học: số lượng mục từ = 1.650; số người viết = 48.

24. Cơ học: số lượng mục từ = 479; số người viết = 21.

25. Công nghiệp: số lượng mục từ = 3.626; số người viết = 87.

26. Địa chất học: số lượng mục từ = 2.000; số người viết = 19.

27. Địa lý học: số lượng mục từ = 3.579; số người viết = 54.

28. Hoá học: số lượng mục từ = 2.020; số người viết = 34

29. Nông nghiệp: số lượng mục từ = 3.045; số người viết = 162.

30. Sinh học: số lượng mục từ = 3.004; số người viết = 43.

31. Tin học: số lượng mục từ = 565; số người viết = 8.

32. Thể dục thể thao: số lượng mục từ = 300; số người viết = 43.

33. Toán học: số lượng mục từ = 1.008; số người viết = 7.

34. Vật lý học-Thiên văn học: số lượng mục từ = 1.600; số người viết = 43.

35. Y học: số lượng mục từ = 2.496; số người viết = 136.

36. Tiêu chuẩn đo lường chất lượng, Sở hữu trí tuệ, Môi trường: số lượng mục từ = 356; số người viết = 9.

Tổng số mục từ = 44.250.

Tổng số người viết = 1.269.

5. Biên soạn nội dung các mục từ

Biên soạn từ điển bách khoa nói ra thì tưởng chừng rất đơn giản: Đem những kiến thức cơ bản hiện có của nhân loại tập hợp, chỉnh lý lại một cách toàn diện, khái quát trừu tượng lại ở mức các đối tượng độc giả có thể tiếp thu được; sắp xếp lại theo phương pháp nào đó để tiện cho tra cứu. Song trong thực tế làm việc, người biên soạn lại thường không bám sát được với những yêu cầu này.

Đây chính là khâu yếu của đội ngữ biên soạn. Bởi tính chất công việc của chuyên gia khoa học với người biên soạn từ điển bách khoa là khác nhau

Chuyên gia khoa học: Người đi thăm dò và khai phá kho tài nguyên còn chưa được biết tới của thế giới.

Người biên soạn từ điển bách khoa: Tập hợp, quy nạp và chỉnh lý các kiến thức cơ bản đã có. Xu hướng cơ bản của việc tập hợp, qui nạp và chỉnh lý là hợp lại, tức hợp những kiến thức phân tán lại thành từng loại lớn một cách tương đối ổn định. Nói cách khác là tổ chức lại kiến thức.

5.1. Thông qua Thể lệ biên soạn (có kèm theo bảng Nguyên tắc phiên âm, chính tả, chuẩn thuật ngữ...).

5.2. Biên soạn các mục từ

Các mục từ được biên soạn theo quan điểm “viết mục từ ngắn” dựa theo các mẫu cấu trúc nội dung mục từ đã được đưa trong Thể lệ biên soạn.

5.2.1. Một số mẫu cấu trúc nội dung mục từ:

Mục từ quốc gia (có bản đồ kèm theo) gồm các nội dung: Tên quốc gia (có chú tên nguyên ngữ); Vị trí địa lý; Diện tích; Dân số; Dân tộc (tên, %); Ngôn ngữ chính thức; Tôn giáo; Thể chế; Thủ đô; Các thành phố chính (tên, dân số); Địa lý tự nhiên; Kinh tế; Lịch sử.

Mục từ nhân vật gồm các nội dung: Tên nhân vật; Tên nguyên ngữ, tên thật, tên hiệu, bí danh...; Năm sinh năm mất; Định danh (nhà hoạt động chính trị, nhà lý luận, nhà...), học hàm, học vị; Quê quán; Tóm tắt tiểu sử bản thân và tiểu sử hoạt động chính trị; Các chức vụ đảm nhận cao nhất; Thành tích nổi bật; Các tác phẩm chính; Giải thưởng, khen thưởng.

Mục từ thuật ngữ - khái niệm hoá học gồm các nội dung: Tên thuật ngữ; Tên nguyên ngữ, tên latin, tên gọi khác, kí hiệu hoá học, công thức, xuất xứ tên gọi...; Định nghĩa; Nội dung chính; Công dụng chính.

5.2.2. Kiến thức trong nội dung các mục từ phải có tính nghiêm nhặt, xác thực, rõ ràng, phải là loại văn thuyết minh mộc mạc, súc tích, bình dị, là sự “thuật lại” chứ không phải là sự “làm ra”. Sự “thuật lại” này trong bộ từ điển được thể hiện bằng những phương thức sau:

1) Trình bày

Tức sắp xếp kiến thức rành mạch, thuyết minh rõ ràng. Các khái niệm, học thuyết, lý thuyết, tư tưởng cơ bản phần nhiều áp dụng phương thức này. Ví dụ:

THIÊN VĂN HỌC ngành khoa học có từ lâu đời, nghiên cứu quy luật chuyển động, cấu tạo và sự phát triển của các vật thể vũ trụ, các hệ thống do chúng tạo thành cũng như của cả vũ trụ. Bao gồm: thiên văn cầu, thiên văn thực hành, thiên văn vật lí, cơ học thiên thể, thiên văn sao, thiên văn ngoài Thiên Hà, tinh nguyên học, vũ trụ học, v.v. Phát sinh từ nhu cầu thực tiễn của con người như dự đoán các hiện tượng mùa, tính lịch, xác định vị trí trên mặt đất, v.v. (...)

2) Thuật lại: Tức kể lại sự việc, là một quá trình giao lưu. Nội dung tác phẩm, lịch trình sự kiện, thân thế nhân vật phần nhiều áp dụng phương thức này. Ví dụ:

ARIXTÔT (Aristote; HL. Aristoteles; 384 - 322 tCn.), nhà triết học và bác học Hi Lạp cổ đại. Con một thầy thuốc của vua xứ Makêđônia (Makedonija). Thầy của Alêchxanđrơ Đại Đế (Alexandre le Grand), từ khi Alêchxanđrơ 13 tuổi cho đến khi lên ngôi vua. Là môn đồ xuất sắc nhất của Platôn (HL. Platôn) trong 20 năm, từ lúc 17 tuổi. Sau khi Platôn mất, Arixtôt chọn Lykâyôt (Lykeios), trường thể dục ở gần điện thờ thần Apôlông (Apollon) ở Aten, làm nơi vừa dạo chơi vừa bàn luận, giảng giải về khoa học, triết học với các học trò của ông, do đó trường phái của ông mang tên là trường phái Pêripatôt (Peripatos – nơi dạo chơi)...

3) Trần thuật

Giới thiệu một cách khách quan, trực tiếp qua chọn lựa từ những tư liệu đã có (dĩ nhiên đã được kiểm tra). Các nội dung mang tính tư liệu như các sự kiện, cứ liệu, công thức... phần nhiều dùng phương pháp trần thuật. Ví dụ:

CHÙA DÂU (tên chữ: Cổ Châu Thiên Định Tự, Diên Ưu Tự, Pháp Vân Tự), chùa ở làng Liên Lâu (nay là làng Dâu, xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh). Được xây dựng từ thế kỉ 2, là trung tâm Phật giáo sớm nhất ở Việt Nam. Năm 1313, vua Trần Anh Tông cử Mạc Đĩnh Chi xây dựng lại và mở rộng quy mô...

4) Miêu tả

Tính trạng, vẻ ngoài, động tác và tư thế của các đối tượng cụ thể (như thực vật, nguyên tố hoá học) phần nhiều dùng phương thức miêu tả. Ví dụ:

ACTISÔ (Ph. artichaut; Cynara scolymus), cây họ Cúc (Asteraceae). Cao khoảng 1 - 2 m, trên thân và mặt dưới lá có lông trắng. Lá to, mọc cách, phiến lá bị khía sâu, có gai. Hoa hình ống. Quả có mào lông.

6. Biên tập bản thảo

Gồm 2 mảng chính là biên tập nội dung và biên tập kỹ thuật;

6.1. Biên tập nội dung: Theo sự chỉ đạo của các Trưởng ban chuyên ngành;

6.2. Biên tập kỹ thuật: Xử lý thống nhất phiên âm, chính tả, thuật ngữ, số liệu, chuyển chú...

7. Phương pháp sắp xếp: Sắp xếp theo thứ tự chữ cái ABC tiếng Việt

8. Bản đồ, minh hoạ

Còn được gọi là “kênh hình” - phần minh hoạ các mục từ, để đối lập với “kênh chữ” là phần nội dung các mục từ, đây là thủ pháp hình tượng hoá quan trọng trong các bộ từ điển, nhất là các công trình mang tính bách khoa.

9. Hệ thống chuyển chú

Vai trò của hệ thống chuyển chú là nối liền các tri thức (mục từ) bị phân tách lại với nhau. Độc giả dựa vào hệ thống chuyển chú sẽ hệ thống hoá được các tri thức có liên quan đến một chủ đề nào đó. Các hình thức chuyển chú: bằng văn tự, bằng ký hiệu, bằng kiểu chữ khác

Bao gồm các loại: Chuyển chú đầu mục từ; Chuyển chú trong nội dung mục từ (chú giải); Chuyển chú giữa nội dung mục từ và Chuyển chú cuối nội dung mục từ

10. Mục lục

Mục lục của bộ “Từ điển bách khoa Việt Nam” là một bảng danh mục thống kê toàn bộ các đầu mục từ được xếp theo thứ tự ABC của tiếng Việt.

11. Tập sách dẫn Index

Tập sách dẫn Index được biên soạn thành một quyển riêng này có thể được xem là tập 5 của bộ “Từ điển Bách khoa Việt Nam”, là thành phần kèm theo quan trọng nhất của bộ từ điển.

Tập sách dẫn Index này được biên soạn theo hình thức index phân tích chủ đề, tức người biên soạn tiến hành phân tích phần nội dung của các mục từ, rồi đưa tất cả những tri thức thông tin có thể định danh được, có sở cứ tin cậy để tuyển chọn thành các đề mục, cho thêm tiêu đề, biên soạn, sắp xếp theo một trật tự tra cứu dựa vào thứ tự chữ cái, có chú số tập, số trang.

C. Một vài hạn chế của bộ “Từ điển Bách khoa Việt Nam”

1. Cấu trúc tổng thể chưa ổn

Các mục từ được lựa chọn đưa vào bộ từ điển không đồng đều nhau giữa các chuyên ngành, thậm chí còn thiếu cân đối ngay cả trong cùng một chuyên ngành.

Chính vì thiếu phương pháp trong việc lập các bảng mục từ tổng hợp mà mà ngành nông nghiệp đã “bệ” gần như nguyên si cả nội dung lẫn đề mục các thuật ngữ-khái niệm chuyên sâu về trong cuốn từ điển chuyên ngành “Từ điển Bách khoa nông nghiệp” (Trung tâm Quốc gia biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam, Hà Nội 1991) vào bộ từ điển bách khoa tổng hợp “Từ điển bách khoa Việt Nam”. Thậm chí trong bộ từ điển bách khoa tổng hợp này còn đưa vào cả các thuật ngữ - khái niệm chuyên sâu như trong từ điển chuyên ngành, thậm chí còn có cả những mục từ mà ngay trong từ điển chuyên ngành cũng không thấy có, như mục từ ba chẽ chỉ có trong “Từ điển Bách khoa Việt Nam” mà không thấy có trong “Từ điển Bách khoa nông nghiệp”, mục từ Acsimet (tiên đề) chỉ có trong “Từ điển Bách khoa Việt Nam” mà không thấy có trong “Từ điển thuật ngữ toán học” (NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2001). Cần lưu ý rằng tất cả các công trình vừa dẫn trên đều được ra đời từ cùng một địa điểm: Hội đồng Quốc gia Chỉ đạo Biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam.

2. Còn thiếu sự đồng bộ, thống nhất

2.1. Về xử lý phiên âm: Ví dụ: Ađoocnô T. V. (Theodor Wiesengrund Adorno) và Ađoocnô T. (T. Adorno); Alêchxanđrơ Đại đế (Ph. Alexandre le Grand) và Alêchxanđrơ; Enghen F. (Friedrich Engels) và Ăngghen F. ; Hecmit S. (Charles Hermite) và Hecmit C.

2.2. Về thuật ngữ: Ví dụ: hiệu ứng Jun – Tômxơnhiệu ứng Jun – Thomxơn; Niutơn (các định luật)ba định luật Niutơn; bảng tuần hoàn các nguyên tố hoá học bảng tuần hoàn các nguyên tố

2.3. Về tên sự kiện: Ví dụ: Cách mạng tháng Tám 1945 ở Việt Nam Cách mạng tháng Tám, Cách mạng tháng Tám 1945; Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga 1917 Cách mạng tháng Mười 1917, Cách mạng tháng Mười Nga 1917, Cách mạng tháng Mười Nga, Cách mạng tháng Mười...

2.4. Về thống nhất tên văn bản: Ví dụ: Công ước của Liên hợp quốc tế về Luật biển 1982Công ước 1982 về luật biển, Công ước luật biển 1982 của Liên hợp quốc, Công ước Luật biển năm 1982, Công ước năm 1982 về luật biển, Công ước về Luật biển năm 1982 của Liên hợp quốc; “Công ước Becnơ về bảo hộ các tác phẩm văn học nghệ thuật”Công ước Becnơ 1886, Công ước Becnơ về bảo vệ tác phẩm văn học và nghệ thuật (1886), Công ước Bơn; “Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà năm 1946”Hiến pháp 1946; Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương 1954Hiệp định Giơnevơ 1954, Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương; Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam 1954Hiệp định Giơnevơ, Hiệp định Giơnevơ về Việt Nam, Hiệp định Giơnevơ về Việt Nam 1954, Hiệp định Giơnevơ (1954)...

2.5. Về cách lấy số liệu

- Thời điểm lấy làm căn cứ: Không giống nhau ở các lĩnh vực. ví dụ: Địa lý theo mốc thời gian riêng,... chứ không phải là mốc thời điểm do Ban biên soạn đề ra, mỗi ngành tự làm theo ý mình, không có sự chỉ đạo thống nhất.

- Không mang tính cập nhật

3. Cách xử lý cg.; tk. không thoả đáng, cả cg. và tk. Đều chỉ đến cùng một địa chỉ giống với x. ngay trong cùng đầu mục từ. Ví dụ :

bề mặt san bằng (cg. mặt san bằng) (đchất) x. mặt san bằng

bệnh lở mồm long móng (cg. sốt lở mồm long móng) (y) x. sốt lở mồm long móng

bệnh nhầy nhớt (tk. bệnh quánh niêm dịch) (y) x. quánh niêm dịch

4. Lẫn lộn các mục từ thuộc từ điển ngữ văn

Đây là hiện tượng xảy ra trong ngành Mỹ thuật. Ví dụ các mục từ rổ, ráthúng, mủng, rổ, rá

5. Về xử lý kênh hình

- Chưa đề ra tiêu chí về kích cỡ, màu sắc, vị trí (trái cột, phải cột, toàn cột, toàn trang), ghi chú... cho các loại minh hoạ nói chung. Ví dụ:

Ảnh chân dung: Chưa có tiêu chí phân biệt giữa ảnh lãnh tụ Việt Nam với ảnh lãnh tụ thế giới, giữa chính khách với danh nhân, giữa nhân vật chính diện với nhân vật phản diện...

6. Về đào tạo đội ngũ biên tập viên

Chất lượng của các công trình mang tính bách khoa có liên quan trực tiếp đến trình độ của đội ngũ biên soạn và biên tập bản thảo. Ở Việt Nam tính cho đến nay, việc biên soạn các công trình mang tính bách khoa vẫn còn là một công việc mới mẻ, tay nghề của các chuyên gia tham gia biên soạn cũng như các biên tập viên còn khá bỡ ngỡ. Biên tập từ điển bách khoa trước tiên cần có sự hiểu biết thấu đáo về tính chất của nó, tức phải có được “ý thức bách khoa”, có khả năng chỉ dẫn và thẩm định bản thảo và lẽ đương nhiên là còn cần có kiến thức về nghiệp vụ biên tập tương đối phong phú và kỹ năng hành văn vững vàng. Có được các kỹ năng cơ bản về máy tính là một yếu tố hết sức cần thiết trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin. Công việc làm bách khoa thư đã không còn chỉ dừng lại ở các thao tác biên soạn, biên tập và tra cứu một cách thủ công nữa, các xuất bản phẩm mang tính bách khoa đã không còn chỉ là những bộ in trên giấy nữa, mà đã được sản xuất phát hành trên đĩa CD-ROM, trên mạng (online)... để có thể đáp ứng được một cách kịp thời nhu cầu tra cứu của các đối tượng độc giả khác nhau. Ngoài ra, việc được trang bị một quan điểm chính trị đúng đắn, một lập trường tư tưởng vững vàng cũng là điều hết sức cần thiết đối với người làm từ điển bách khoa, để có thể xử lý được một cách tự tin trước những mục từ đề cập đến những nội dung mang tính “nhạy cảm”. Các bộ phận biên tập cần phải tạo dựng được độ uy tín cần thiết về kiến thực biên soạn từ điển bách khoa, thì mới có thể hợp tác chặt chẽ được với các chuyên gia khoa học, mới hướng được đông đảo các nhà khoa học vào quĩ đạo cần có cho phù hợp với cách thức biên soạn từ điển bách khoa, mà không bị các chuyên gia ấy lái đi theo hướng chuyên ngành của riêng họ. Tất cả những điều này đều là những điều kiện quan trọng trong việc quyết định chất lượng của một bộ từ điển bách khoa. Vậy mà ở Việt Nam vẫn chưa có được một cơ sở đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ nào đúng nghĩa cho những người làm công việc này.

 

THƯ MỤC THAM KHẢO

[1] Từ điển Bách khoa Việt Nam (4 tập), Trung tâm biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam & NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 1995-2005.

[2] Hà Học Trạc, Lịch sử - lí luận và thực tiễn biên soạn bách khoa toàn thư, NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2004.`

[3] Nguyễn Trung Thuần, 科全书编纂该轮, 金常政, 山西人民出版社, 1984.

[4] Về việc thu thập và xử lý bảng mục từ cho bộ Từ điển Bách khoa Việt Nam, Báo cáo khoa học, Hội nghị khoa học Viện Từ điển Bách khoa, 1985.

[5] Nguyễn Trung Thuần, Những điều chưa hợp lý trong việc xử lý các thuật ngữ - khái niệm bộ Từ điển Bách khoa Việt Nam, tạp chí Từ điển học & Bách khoa thư, s. 2, 2009.

[6] http://en.wikipedia.org.

 

 

SUMMARY

The author conducts a survey of the Vietnamese Encyclopedic Dictionary (1995-2003) to have an objective assessment of the process of compiling, editing and publishing this book. Some proposals are put forward in order to assist scientists in compiling the forthcoming Vietnamese Encyclopedia.

Tạp chí Từ điển học & Bách khoa thư, số 1 (21) 2013