Một số vấn đề về Từ điển Nga - Việt, Việt - Nga

02/07/2013

 

VŨ LỘC

 

Từ điển song ngữ là một loại sách công cụ cần thiết trong việc giảng dạy, học tập và sử dụng ngoại ngữ. Về thực chất, từ điển song ngữ là từ điển đối dịch. Đối tượng của nó có thể là người sử dụng ngôn ngữ gốc, cũng có thể là người sử dụng ngôn ngữ dịch. Do đó có hai loại từ điển dịch: từ điển thụ độngtừ điển tích cực. Từ điển song ngữ tiếng nước ngoài - tiếng mẹ đẻ, đối với người sử dụng để đọc và dịch văn bản từ tiếng nước ngoài sang tiếng mẹ đẻ, là từ điển thụ động. Người sử dụng chỉ cần biết nghĩa của từ nước ngoài để tìm từ có nghĩa tương đương trong tiếng mẹ đẻ. Những thông tin bổ sung của từ trong tiếng nước ngoài đối với người đó không quan trọng. Ngược lại, khi dịch từ tiếng mẹ đẻ sang tiếng nước ngoài, muốn nói đúng và viết đúng thì những thông tin bổ sung của từ tiếng nước ngoài lại rất cần thiết. Điều đó đòi hỏi phải có loại từ điển tích cực.

Về lí thuyết có thể có hai loại từ điển song ngữ “ngoại ngữ - tiếng mẹ đẻ” và hai loại từ điển song ngữ “tiếng mẹ đẻ - ngoại ngữ” tuỳ thuộc vào người sử dụng. Chẳng hạn như từ điển Nga – Việt cho người Nga và Nga – Việt cho người Việt, từ điển Việt – Nga cho người Nga và Việt – Nga cho người Việt.

Tuy nhiên trên thực tế phần lớn từ điển song ngữ đều được biên soạn cho cả hai loại đối tượng người sử dụng. Chẳng hạn từ điển Nga – Việt dùng cho cả người Nga và người Việt, từ điển Việt – Nga dùng cho cả người Việt và người Nga. Do đó trong các từ điển này có cả những yếu tố của cả hai loại từ điển thụ động và tích cực.

Về bảng từ

Bảng từ là yếu tố quan trọng của từ điển. Đó là danh mục các đơn vị đứng đầu các mục từ. Nó xác định khối lượng và kiểu loại của từ điển. Căn cứ vào bảng từ, người ta phân biệt từ điển phổ thông và từ điển thuật ngữ. Về khối lượng, người ta thường phân biệt từ điển bỏ túi, từ điển cỡ nhỏ (khoảng 8.000 mục từ trở lại), cỡ trung bình (khoảng 20.000 mục từ trở lại), cỡ lớn (trên 20.000 mục từ) và cỡ đại (trên 100.000 mục từ ). Sự phân biệt này mang tính ước lệ vì không có những tiêu chí cụ thể về số lượng từ, số trang in, v.v. Tuy nhiên nó luôn luôn tồn tại trên thực tế.

Như mọi người đều biết, số lượng các đơn vị từ vựng trong một ngôn ngữ hiện đại của một nước phát triển về khoa học, kĩ thuật, chính trị và kinh tế ước tính gồm hàng trăm ngàn đơn vị. Con số đó chưa phải là đầy đủ vì từ vựng là một hệ thống mở, luôn biến động. Không một loại từ điển nào có thể thể bao quát được tất cả mọi từ. Mỗi loại từ điển có những đặc trưng và có những đối tượng sử dụng khác nhau. Mỗi loại từ điển thu thập một mảng từ vựng khác nhau. Do đó việc lập bảng từ phải được nghiên cứu kĩ lưỡng và lựa chọn nghiêm ngặt, vì ở một mức độ đáng kể, nó quy định chất lượng của từ điển.1

Từ ngữ trong từ điển phổ thông, kể cả từ điển tường giải cỡ trung bình và cỡ lớn, là những từ ngữ có tần số sử dụng cao. Trong từ điển tường giải đơn ngữ bao giờ cũng có một số lượng nhất định những thuật ngữ, những từ cổ, những từ lịch sử, những từ thông tục, nhưng những từ ngữ ấy nhất thiết phải là những từ ngữ thông dụng, không phải ai cũng phải biết, nhưng những người có văn hoá phải hiểu hoặc biết sử dụng.

Bảng từ của từ điển song ngữ về cơ bản dựa vào bảng từ của từ điển tường giải đơn ngữ, nhưng không nhất thiết phải đúng như trong từ điển đơn ngữ vì nó phụ thuộc vào những yếu tố sau đây:

1) Đặc thù của từng ngôn ngữ. Chẳng hạn trong tiếng Nga do cách cấu tạo có quy luật, nên những từ phái sinh trong từ điển tường giải đơn ngữ có thể giải quyết trong một mục từ. Thí dụ: вежливо ([một cách] lễ phép), вежливость (sự lễ phép) để ở trong mục từ вежливый (lễ phép). Trong mục từ лечить (chữa bệnh) сó cả лечиться (chữa bệnh – nói về người bệnh), лечение (sự chữa bệnh), лечебный (về chữa bệnh)2. Nhưng trong từ điển song ngữ (Nga – ngoại ngữ) mỗi từ đều tách thành một mục từ riêng.

Trong từ điển tường giải đơn ngữ những tiền tố cấu tạo từ như а..., анти..., без..., до..., инфра..., ультра..., v.v. tuy không phải là từ nhưng vì có khả năng sinh sản lớn nên thường được đưa vào bảng từ. Trong từ điển song ngữ thì chúng phải thể hiện trong các từ cụ thể. Ví dụ: аморальный (phi luân, vô đạo đức), антифеодальный (bài phong, chống phong kiến), безграничный (vô bờ, vô biên, không bờ bến), доработать (làm nốt, làm xong), инфракрасный (hồng ngoại, siêu đỏ), ультрафиолетовый (tử ngoại, cực tím), v.v.

Trong từ điển đơn ngữ, những từ có biến đổi theo cách thì chỉ từ đại diện ở nguyên cách được đưa vào bảng từ, nhưng trong từ điển song ngữ, nếu từ biến đổi đặc biệt thì các dạng của nó có thể đều đưa vào bảng từ. Ví dụ: я (tôi) và меня, мне, мной đều được xếp thành các mục riêng.

2) Mỗi cộng đồng ngôn ngữ có những hiện tượng và sự vật đặc thù. Từ ngữ chỉ những hiện tượng và sự vật đặc thù tồn tại trong ngôn ngữ này không có những từ ngữ tương đương trong các ngôn ngữ khác. Những cách miêu tả bằng từ ngữ hoặc phiên âm không thể làm cho người ta có khái niệm về các sự vật đó. Chỉ có qua thể nghiệm thực tế người ta mới biết đó là cái gì. Vì vậy phải cân nhắc khi thu thập chúng trong từ điển song ngữ. Ví dụ: Từ phở của tiếng Việt có thể đưa vào từ điển Việt – ngoại ngữ, vì nhiều người nước ngoài đã được ăn phở (không phải chỉ ở Việt Nam) và biết phở là món ăn như thế nào. Từ bánh chưng có thể đưa vào từ điển Việt - ngoại ngữ, tuy đọc lời giải thích (bánh hình vuông tượng trưng cho mặt đất: nhân bằng đậu xanh và thịt lợn hoặc nhân ngọt, gói lá dong hay lá chuối và luộc vài giờ đến khi chín, là món ăn truyền thống của Việt Nam nhân dịp năm mới âm lịch)3 người nước ngoài không hiểu cụ thể nó là loại bánh như thế nào, nhưng biết đó là loại bánh thường làm vào dịp Tết âm lịch truyền thống của Việt Nam. Nhưng những từ như bánh giò, bánh tro, v.v. thì không nên đưa vào vì dù đọc lời giải thích: bánh hình tam giác, làm bằng bột gạo có nhân thịt, hành, nấm, quấn trong lá chuối và đun trong nước; bánh làm bằng gạo nếp, gói lá dong, ngâm nước gio trong4 cũng không thể hình dung đó là những bánh gì, nếu chưa được ăn lần nào. Những ai muốn nghiên cứu về văn hoá ẩm thực của Việt Nam thì phải tra cứu trong từ điển tường giải tiếng Việt, sách báo tiếng Việt và phải thể nghiệm qua thực tế.

3) Từ điển song ngữ phải mang tính chất của các ngôn ngữ hiện đại. Thuật ngữ ngôn ngữ hiện đại có hai cách hiểu. Cách hiểu thứ nhất dựa vào tính chất tiệm tiến của quá trình biến đổi ngữ pháp, tính chất ổn định của các phạm trù cơ bản, tính chất chuẩn mực của ngôn từ trong các tác phẩm văn học kinh điển lưu truyền qua nhiều thế hệ, vì thế mốc thời gian có thể rộng hơn. Đối với tiếng Nga, người ta tính từ thời Pushkin, đối với tiếng Việt có thể tính từ thời Nguyễn Du. Từ điển đơn ngữ được biên soạn theo cách hiểu này.

Cách hiểu thứ hai, theo nghĩa hẹp đó là ngôn ngữ đang được sử dụng hiện nay ở cuối thế kỉ XX và đầu thế kỉ XXI. Cách hiểu này là cơ sở để biên soạn các sách ngữ pháp thực hành và từ điển song ngữ. Nó làm bằng chứng cho trạng thái ngôn ngữ giai đoạn này đối với việc miêu tả ngôn ngữ trong tương lai. Nó phản ánh thực tiễn ngôn ngữ đương đại của các cộng đồng dân cư. Những từ cũ, từ lịch sử ít gặp trong sinh hoạt và trong các sách báo phổ thông, những từ địa phương chưa thành tài sản của ngôn ngữ toàn dân v.v. không nên đưa vào từ điển song ngữ. Nếu cần tra cứu những từ đó, người đọc phải tìm trong từ điển tường giải đơn ngữ. Từ điển song ngữ tuy là một công cụ để học ngoại ngữ, nhưng nó chỉ cung cấp cho người sử dụng kiến thức cơ bản và khả năng vận dụng ngoại ngữ ở một mức độ nào đó. Muốn nâng cao kiến thức và khả năng sử dụng ngoại ngữ, người học phải biết sử dụng từ điển tường giải đơn ngữ và các tài liệu chuyên ngành.

Về mục từ

Nói chung trong mỗi mục từ cần giải quyết những vấn đề sau đây: những thông tin về ngữ âm, những thông tin về ngữ pháp, những thông tin về ngữ nghĩa (các yếu tố tương đương trong hai ngôn ngữ).

* Những thông tin về ngữ âm5

1) Phiên âm. Các ngôn ngữ có chữ viết không phản ánh đúng cách phát âm thì phải cung cấp cách phiên âm. Tiếng Nga chỉ cần chỉ dẫn cách phát âm của những từ không theo quy tắc ngữ âm. Ví dụ: кафе [фэ] (quán cà-phê), кашне [нэ] (khăn quàng cổ), компьютер [тэ] (com-pu-tơ), конденсатор [дэ] (cái tụ điện), купе [пэ] (buồng trên xe lửa), конечно [шн] (tất nhiên), тенденция [тэндэн] (khuynh hướng).

2) Trọng âm. Các ngôn ngữ có trọng âm từ cần phải cung cấp trọng âm không những của từ đầu mục, mà cả trong các tổ hợp từ và thí dụ minh hoạ vì từ một âm tiết và hư từ thường không có trọng âm, nhưng trong tổ hợp và trong câu cụ thể chúng có thể mang trọng âm. So sánh những cặp cụm từ và những câu sau: дойти до дома (đi đến ngôi nhà) và дойти до дому (về đến nhà [mình]) выйти из дома (ra khỏi ngôi nhà) và выйти из дому (ra khỏi nhà [mình]); Она придёт через час (một giờ nữa bà ấy sẽ đến – phát ngôn bình thường) và Она придёт через час (phát ngôn nhấn mạnh vào thời gian). Những thông tin về ngữ âm rất cần thiết đối với người sử dụng tiếng nước ngoài vì vậy các từ điển, nhất là từ điển giáo khoa cần phải đặc biệt chú ý.

* Những thông tin về ngữ pháp

Đó là những vấn đề chú giải về từ loại của từ đầu mục, chú giải về đặc điểm hình thái học của từ đầu mục và chú giải về khả năng kết hợp của từ đó với những từ khác.

1) Chú giải về từ loại. Đối với các ngôn ngữ có hình thái như tiếng Nga, việc phân chia từ loại tương đối đơn giản. Việc chú giải về từ loại trong từ điển đã thành truyền thống. Từ điển song ngữ hoàn toàn có thể dựa vào từ điển tường giải đơn ngữ.

Việc phân chia từ loại trong tiếng Việt cho đến nay vẫn chưa thống nhất. Số lượng từ loại được các tác giả phân định khác nhau do có những ý kiến khác nhau về một số từ loại.6

Cuốn từ điển này áp dụng cách phân chia từ loại của cuốn Ngữ pháp tiếng Việt (Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1983), để chú thích cho các từ trong từ điển7 Nó làm chỗ dựa cho mấy quyển từ điển Việt – Nga xuất bản những năm gần đây. Tuy nhiên việc chú thích từ loại trong từ điển vẫn còn là vấn đề cần thảo luận.

Một điều cần chú ý là không được dựa vào từ loại của ngôn ngữ này áp đặt cho ngôn ngữ khác. Điều này đã xảy ra đối với cuốn Đại từ điển Việt – Nga, tập I.8

2) Những đặc điểm hình thái học

Tiếng Nga có các hệ hình biến đổi từ: biến cách của danh từ, biến đổi của động từ và các dạng phái sinh của từ. Những điều này được phản ánh trong từ điển và đã thành truyền thống trong việc biên soạn các từ điển tường giải tiếng Nga.

Một số từ điển song ngữ Nga – ngoại ngữ cỡ lớn phục vụ cho những người đã nắm được tiếng Nga ở mức độ tương đối thành thạo, những chú giải này được trình bày rất cô đọng. Vài thí dụ về cách chú giải này: Cạnh danh từ chỉ có chú giải về giống: книга ж. (quyển sách giống cái), мужчина м. (người đàn ông giống đực), сирота м. и ж. (kẻ mồ côi giống đực giống cái). Сó chú thích danh từ dùng số nhiều: брюки мн. (cái quần số nhiều); колено ср.... мн. колени (đầu gối giống trung... số nhiều là колени) và danh từ tập hợp: актив м. собир. (cốt cán giống đực, tập hợp), учительство ср. собир. (giáo giới trung, tập hợp), студенчество ср. собир. (giới sinh viên trung, tập hợp). Cạnh động từ không có ghi chú gì, hoặc chỉ có ghi chú về thể: добиваться несов. (сố gắng đặt được chưa hoàn thành), добиться сов.(đạt được hoàn thành), адаптировать несов. и сов. (thích nghi chưa hoàn thành hoàn thành), женить несов. и сов. (cưới vợ chưa hoàn thành hoàn thành), v.v.

Tuy nhiên nhiều từ điển Nga - ngoại ngữ, nhất là từ điển học sinh những thông tin đó сó nhiều hơn và chi tiết hơn. Ví dụ cạnh từ дом (ngôi nhà) có thể có những chú giải sau: дом, cách hai số ít дом-а và -у, giới cách (в доме, на дому), số nhiều (дом-а, -ов), từ loại danh từ.

Cạnh từ лечь сó những ghi chú sau: thời hiện tại (ляг-у, -ешь, -ут), thời quá khứ (лёг, легл-а, -о, -и), thức mệnh lệnh (ляг, лягте) tính động từ chủ động quá khứ (лёгший), động từ hoàn thành.

Ở đây có vấn đề về cách trình bày các chú dẫn. Một số từ điển dùng quá nhiều từ viết tắt để giải thích vừa rối rắm vừa không tiết kiệm. Nếu trong quy tắc trình bày (hoặc cấu trúc của từ điển) có nêu rõ trình tự trước sau đối với các chú giải, ví dụ đối với động từ sau chú thích несов. hoặc сов. là các dạng thời hiện tại (nếu có gì đặc biệt, là các dạng thời quá khứ, sau đó là các dạng mệnh lệnh), tiếp là tính động từ, trạng động từ, thì có thể bỏ những từ viết tắt chỉ thời quá khứ, chỉ thức mệnh lệnh, chỉ tính động từtrạng động từ. Đối với danh từ những chữ viết tắt chỉ giống của danh từ (м., ж., ср.) đã có thể thay thế cho từ viết tắt chỉ danh từ (сущ.). Nếu tính từ đã cho các dạng giống đực,giống cái, giống trung, số nhiều ở nguyên cách (нов-ый, –ая, -ое, -ые), thì không cần từ viết tắt chỉ tính từ (прил.) nữa v.v.

3) Khả năng kết hợp của từ

Trong mọi ngôn ngữ các từ kết hợp với nhau về mặt ngữ nghĩa là dựa trên quan hệ logic giữa các sự vật của thực tế khách quan. Do đó có nhiều sự đồng nhất (хороший человек – người tốt, высокий дом – nhà cao, голубое небо – bầu trời xanh, v.v.). Nhưng về mặt ngữ pháp, mỗi ngôn ngữ có những quy tắc kết hợp riêng. Trong tiếng Việt thì trật tự các yếu tố là quan trọng nhất. Đối với tiếng Nga thì quan trọng là những quan hệ tương hợp (tính từ phải phù hợp với danh từ về giống, số, cách) và quan hệ chi phối (động từ đòi hỏi danh từ bổ nghĩa cho nó phải ở một cách nhất định) v.v. Vì vậy trong từ điển Nga - ngoại ngữ sau động từ thường có hai cách chú giải: chú giải trực tiếp, ví dụ: читать (В đối cách) ) và chú giải gián tiếp, ví dụ: читать (кого, что – ai, cái gì). Phần lớn các từ điển sử dụng cách chú giải gián tiếp. Cách chú giải này có sự phân biệt rõ ràng danh từ động vật, bất động vật, nên rất thuận tiện khi động từ chỉ đòi hỏi bổ ngữ là danh từ động vật hay danh từ bất động vật, hoặc cả hai. Ví dụ: питать 1) кого питать больного (cho bệnh nhân ăn); 2) что питать надежду (nuôi hi vọng); видеть кого-что видеть человека (trông thấy người); видеть дом (trông thấy ngôi nhà).

Cần chú ý là những thí dụ minh hoạ khả năng kết hợp của các từ trong từ điển song ngữ Nga - ngoại ngữ không nên liệt kê chung trong dấu ngoặc, mà nên tách riêng từng nhóm để người sử dụng tránh được những sai lầm về ngữ pháp. Ví dụ, từ красивый (đẹp) có thể kết hợp với những từ вид (phong cảnh), девушка (cô gái), глаза (đôi mắt), лицо (khuôn mặt), nhưng không nên vì tiết kiệm mà trình bày như sau: красивый вид (девушка, глаза, лицо), mà nên tách ra thành красивый вид, красивая девушка, красивые глаза, красивое лицо красивый девушка là sai ngữ pháp, v.v.

* Những thông tin về ngữ nghĩa

Khả năng kết hợp của từ trong từ điển thể hiện qua các cụm từ là những thông tin về ngữ nghĩa trong từ điển. Việc lựa chọn các cụm từ để minh hoạ nghĩa và cách dùng của từ chính là nội dung cơ bản của từ điển.

Từ điển song ngữ cung cấp cho người đọc ý nghĩa của từ thông qua từ tương đương trong ngôn ngữ đích. Nếu biết nghĩa của một số cụm từ kết hợp đúng quy tắc ngữ pháp thì người sử dụng có thể tìm ra được các tổ hợp tương đương khác và tạo ra những câu đúng trong ngôn ngữ đích.

Số lượng cụm từ trong mỗi ngôn ngữ có thể nói là vô tận. Không một cuốn từ điển song ngữ nào có thể thu thập hết các cụm từ tự do (có thể dịch từng yếu tố) và việc đó cũng không cần thiết. Liệt kê nhiều những cụm từ đồng dạng chỉ làm tăng khối lượng của từ điển mà không nâng cao chất lượng của nó. Người sử dụng từ điển có kinh nghiệm thông qua những cụm từ điển hình được cung cấp trong từ điển, sẽ tìm được cách dịch những cụm từ đồng dạng gặp trong thực tế.

Những cụm từ làm thí dụ trong từ điển song ngữ, nhất là từ điển học sinh, nhất thiết phải có cách dịch tương đương. Điều này liên quan cả đến các thí dụ là câu hoàn chỉnh.

Một điều cũng đáng nói là trong từ điển song ngữ thì quan trọng là cụm từ chứ không phải là câu. Vì vậy nếu cần lấy câu làm thí dụ thì phải có sự cân nhắc cẩn thận. Tuyệt nhiên không nên tự đặt ra những câu rườm rà ít lượng thông tin cần thiết, có thể rút gọn thành cụm từ.9

 

-----------------------------

 

1 Một thí dụ điển hình của việc lựa chọn thiếu cân nhắc là tập I của cuốn Đại từ điển Việt - Nga. Đây là từ điển phổ thông có tính chất hàn lâm mà trong vần “B” có đến 50 mục từ với từ bác sĩ, 100 mục từ với từ bệnh, 263 mục từ với từ bộ (hơn 10 trang liền), 41 mục từ với từ bơm; Vần “C” có đến 26 mục từ với từ chiến tranh.

2 Dẫn theo Словарь русского языка, С. И. Ожегов.

3 Dẫn theo Đại từ điển Việt - Nga, tập I: bánh chưngпирог “бань-тьынг” (квадратной формы; символизирует землю; начинка из маша и свинины или сладкая; заворачивается в лист маранты или банана и варится несколько часов до готовности; традиционное вьетнамское угощение на Новвый год по лунному календарю).

4 Dẫn theo Đại từ điển Việt - Nga, tập I: bánh giò – пирожок “баньзо” (треугольной формы; из рисовой муки с начинкой из мяса, лука, грибов; заворачивается в банановый лист и варится в воде); bánh troпирожки “баньчо” (из клейкого риса, завёрнуты в листья маранты, вымачиваются в прозрачной зольной воде.

5 Tiếng Việt không có trọng âm của từ, các biển thể ngữ âm đều được coi là từ và xếp thành mục riêng nên trong các từ điển Việt – ngoại ngữ không có thông tin về ngữ âm.

6 Xin dẫn một vài thí dụ:

- Trong từ điển Từ và ngữ Việt Nam, tác giả Nguyễn Lân chú thích các từ theo những từ loại sau đây: danh từ, động từ, tính từ, đại từ, số từ, trạng từ, mạo từ (loại từ), giới từ, liên từ, thán từ, trợ từ.

- Theo Từ điển tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, tiếng Việt có: danh từ, đại từ, tính từ, động từ, phụ từ, kết từ, trợ từ, cảm từ.

- Đại từ điển tiếng Việt, (NXB Văn hoá Thông tin, 1998) chú thích từ loại như sau: danh từ, đại từ, tính từ, động từ, phụ từ, liên từ, trợ từ, thán từ.

- Tác giả Ngữ pháp tiếng Việt (NXB Giáo dục, 2005) phân chia các từ thành: danh từ (và loại từ), số từ, tính từ, động từ, đại từ, định từ, phó từ, quan hệ từ, tình thái từ, trợ từ, thán từ.

- Trong Từ điển từ và ngữ Việt Nam những từ những, các, cái được chú thích là mạo từ, nhưng từ con và những từ được các tác giả khác coi là loại từ thì lại được chú thích là danh từ. Từ điển tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học và Đại từ điển tiếng Việt (NXB Văn hoá Thông tin) những từ những, các, cái, con nhất loạt chú thích là danh từ. Trong các sách ngữ pháp số từ được tách thành một từ loại riêng và trong hầu hết các từ điển đều có chú thích từ loại số từ. Riêng Từ điển tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học và Đại từ điển tiếng Việt (NXB Văn hoá Thông tin) các số từ đều chú thích là danh từ.

7 Trong từ điển này không có các từ loại loại từsố từ. Đó là một bước tiến. Nhưng trong từ điển tính từđộng từ vẫn tách thành hai từ loại. Việc làm này đã khiến các tác giả giải quyết một cách võ đoán nhiều trường hợp:

bạt hồnđộng từ, nhưng bạt víatính từ

có chửađộng từ, nhưng có mangtính từ

ham động từ (ham học), nhưng lườitính từ (lười học)

mêđộng từ (bệnh nhân lúc mê lúc tỉnh), nhưng tỉnhtính từ (bệnh nhân đã tỉnh lại sau cơn mê)

viễn dươngtính từ, nhưng viễn phươngdanh từ, v.v.

Các tác giả lúng túng khi gặp những trường hợp không tách được và phải chú thích nước đôi. Ví dụ: cáu, cáu bẳn, cáu kỉnh, hài hước, ham thích, lao xao, lào xào, láo liên, lặng im, lắt lay, lẩn lút, lấp lánh, lất phất, lêu têu, nhẫn tâm, v.v. đều chú thích là động từ (hoặc tính từ).

Tuy nhiên sai lầm lớn nhất của cuốn từ điển này lại là ở chỗ các tác giả chú thích từ loại cho cả các cụm từ. Đã là cụm từ thì dù là cụm từ cố định hay cụm từ tự do cũng gồm hai từ trở lên. Mỗi từ đều thuộc một từ loại nào đó. Có điều là những từ đó kết hợp lại thành một đơn vị định danh và do đó trở thành đơn vị từ điển. Chúng có thể có những chức năng ngữ pháp như những từ riêng biệt (làm định ngữ, bổ ngữ cho những từ khác), nhưng không vì thế mà có thể gán từ loại cho chúng được. Rất tiếc là điều này không được sớm khắc phục. Nó đã ảnh hưởng đến những cuốn từ điển Việt - Nga xuất bản gần đây. Ví dụ, Đại từ điển Việt - Nga, tập I đưa thành mục từ riêng quá nhiều cụm từ tự do và chú thích từ loại một cách khá tuỳ tiện:

ba cạnhtính từ, nhưng ba chấmdanh từ

ba lầnphụ từ, nhưng ba ngàydanh từ

bài ngoạiđộng từ, nhưng bài phong tính từ

có củatính từ, nhưng có tiềnđộng từ

có tiếng tính từ, nhưng có uy tín động từ

8 Cùng là tổ hợp (bốn + danh từ) mà:

bốn bánh chú thích là t. прил. vì dịch bằng tính từ четырёхколёсный?

bốn bề chú thích là ph. нареч. vì dịch bằng phó từ кругом, отовсюду…?

bốn biển chú thích là d. сущ. vì dịch bằng tổ hợp có danh từ весь мир ?

Сùng là tổ hợp ( + danh từ)

có tiền chú thích là đg. гл. vì dịch bằng иметь много денег, иметь достаток

có của chú thích là t.прил. vì dịch bằng имущий, состоятельный

Có thể dẫn thêm rất nhiều ví dụ:

bài cộng chú thích là t. vì dịch bằng антикоммунистический

bài phong chú thích là t. vì dịch bằng антифеодальный, nhưng

bài ngoại chú thích là đg. vì dịch bằng отвергать всё иностранное, v.v.

buổi chiều I chú thích là d. và II chú thích là ph. vì dịch bằng вечером

9 Trong cuốn Đại từ điển Việt - Nga để minh hoạ những mục từ: bão bùng, bão táp, báo cô, báo mộng, bạo tử, bát ngát, bạt mạng, báu, bay bướm, bắt lính, bập bẹ, bất bình, bất đắc kỳ tử, bất thành cú, bẻ hoẹ, béo bụ, bệnh hoạn, cấp tiến có những câu minh hoạ như sau:

Con tàu vượt qua sóng gió bão bùng đã cặp bến.

Ông tôi trưởng thành trong bão táp cách mạng.

Nó đã lớn rồi mà vẫn ăn (sống) báo cô cha mẹ.

Đêm qua bà tôi báo mộng rằng tôi sẽ trúng xổ số.

Nhà ấy đời nào cũng có người bạo tử.

Anh ấy thì bát ngát lắm.

Bọn trẻ đi xe máy chỉ thích phóng bạt mạng.

Đừng tưởng cái xe đạp của mày là báu lắm.

Anh ấy là người bay bướm lắm.

Chính quyền Sài Gòn thường tiến hành các chiến dịch bắt lính.

Lúc mới đến Moskva họ chỉ biết bập bẹ vài câu tiếng Nga.

Ông ấy bác bỏ một cách bất bình những lời buộc tội.

Nhà ấy có mấy người đều chết bất đắc tử.

Nghiên cứu sinh mà viết bất thành cú thế ư!

Người gì mà hay bẻ hoẹ cấp dưới.

Trong nhà trẻ này toàn những đứa bé béo bụ, kháu khỉnh.

Thằng cha này ghen tuông một cách bệnh hoạn.

Bố mẹ tôi là những người có quan điểm cấp tiến.

SUMMARY

Through his experience in composing the Russian – Vietnamese, Vietnamese – Russian dictionaries, the author discusses on theories of composing bilingual dictionaries in a reasonable, scientific and feasible manner. Each linguistic community has its own specificities, the explanation and selection of equivalent words therefore must proceed from the very national specificities, the meanings in use, and nominative elements of the language in question. Numerous examples related in structure of entry list and information of word entries (grammatical information, semantic information, etc.) have been provided in the article.


Tạp chí Từ điển học và Bách khoa thư, số 01, năm 2010