Một số nhận xét bước đầu về từ điển Việt - Dân tộc

03/07/2013

NGUYỄN HỮU HOÀNH

1. Đặt vấn đề

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, đa ngôn ngữ. Chính vì vậy, trong chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta, ngôn ngữ là một vấn đề rất được quan tâm với mục đích tăng cường mối đoàn kết toàn dân để phát triển khoa học kĩ thuật, kinh tế, văn hoá... Ngay từ khi mới được thành lập, ở Đại hội lần thứ nhất (3-1935) Đảng ta đã xác định “Các dân tộc… được dùng tiếng mẹ đẻ của mình trong sinh hoạt chính trị, kinh tế và văn hoá…”. Có thể nói rằng, chủ trương đó đã được Đảng ta duy trì một cách nhất quán cho đến tận ngày nay. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX cũng nhấn mạnh: “Ngoài tiếng phổ thông, các dân tộc có chữ viết riêng được khuyến khích học chữ dân tộc… dùng tiếng nói dân tộc và chữ viết của các dân tộc có chữ viết trên các phương tiện thông tin đại chúng ở vùng dân tộc”.

Trong quá trình thực hiện chủ trương đó, Quyết định 53/CP đã giao nhiệm vụ hết sức cụ thể cho cơ quan hữu quan như Bộ Giáo dục, Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam (nay là Viện Khoa học Xã hội Việt Nam), Bộ Văn hoá & Thông tin, uỷ ban nhân dân các tỉnh. Riêng Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam được giao 3 nhiệm vụ quan trọng, trong đó có nhiệm vụ: “Biên soạn các sách từ điển, hội thoại… và bồi dưỡng cán bộ phục vụ cho yêu cầu phát triển đồng thời chữ phổ thông và chữ dân tộc ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Như vậy, ở nước ta, việc biên soạn các loại từ điển Việt - Dân tộc, Dân tộc - Việt, một mặt là xuất phát từ nhu cầu của xã hội nhưng mặt khác đó cũng là nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước đã giao cho các nhà khoa học. Việc biên soạn và xuất bản các loại từ điển Việt - Dân tộc, Dân tộc - Việt vì thế không đơn thuần chỉ là công việc thuần tuý của khoa học mà đó còn là nhiệm vụ chính trị, góp phần thực hiện thành công đường lối, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta.

Cho đến thời điểm hiện nay (2010), chúng ta đã biên soạn được khá nhiều từ điển Việt - Dân tộc, Dân tộc - Việt. Theo thống kê của chúng tôi (có thể chưa đầy đủ), số lượng các từ điển Việt - Dân tộc là 19 đầu sách, số lượng từ điển Dân tộc - Việt là 11. Mặc dù còn khiêm tốn nhưng những con số vừa nêu cho thấy một sự cố gắng nhất định của các nhà khoa học. Vấn đề mà chúng tôi quan tâm ở đây là, những cuốn từ điển trên đã được biên soạn như thế nào? Những sự điều chỉnh nào là cần thiết cho các công trình sắp tới? Nhiệm vụ chính của bài viết này là tìm câu trả lời cho các câu hỏi vừa nêu đối với bộ phận từ điển Việt - Dân tộc đã được xuất bản trong thời gian qua.

2. Vị trí, đặc điểm của từ điển Việt - Dân tộc trong sự phân loại của từ điển học

Như chúng ta đã biết, hiện tại trong các tài liệu về từ điển học có rất nhiều các phân loại từ điển khác nhau và kết quả của chúng cũng không giống nhau [12; 38]. Tuy nhiên, trong hầu hết các cách phân loại, ý kiến về loại từ điển kiểu như Việt - Dân tộc lại tương đối thống nhất. Chẳng hạn, theo cách phân loại của L.V. Shherba thì loại từ điển này được gọi là từ điển đối dịch (trong sự đối lập với từ điển giải thích); trong Giáo trình từ điển học, L. Zgusta xếp chúng vào loại từ điển ngôn ngữ và gọi là “từ điển hai thứ tiếng” (trong sự đối lập với từ điển một thứ tiếng) [12; 246]. Theo đó, từ điển đối dịch khác với từ điển giải thích ở chỗ: từ điển giải thích có nhiệm vụ cung cấp những thông tin về các đơn vị ngôn ngữ bằng chính ngôn ngữ đó, còn từ điển đối dịch có nhiệm vụ dịch các đơn vị từ ngữ của ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác bằng các đơn vị tương đương. Cụ thể ở đây là, từ điển Việt - Dân tộc khác với từ điển tiếng Việt ở chỗ: từ điển tiếng Việt giải thích các đơn vị từ ngữ của tiếng Việt bằng chính tiếng Việt, trong khi đó ở từ điển Việt - Dân tộc thì các đơn vị mục từ tiếng Việt sẽ được dịch sang tiếng dân tộc bằng các đơn vị tương đương. Có thể minh hoạ sự khác nhau này bằng mục từ “da” ở Từ điển tiếng Việt (2002) và Từ điển Việt - Êđê như sau:

Từ điển tiếng Việt

Từ điển Việt - Êđê

Da: 1. Lớp mô bọc ngoài cơ thể người.

Da: 1.Klit. Cùng màu da tiếng nói: Mse klit kliêng, mse klei blu.

2.Da một số động vật đã thuộc.

2. Klit. Cặp da: Kdô klit.

Trong tất cả các từ điển Việt - Dân tộc đã được biên soạn, mặc dù các tác giả không chỉ ra một cách cụ thể như những điều chúng tôi vừa trình bày, tuy nhiên các tác giả đều xác định một cách đúng đắn rằng, đây là từ điển đối dịch trong đó tiếng Việt giữ vai trò là ngôn ngữ được đối chiếu, còn tiếng dân tộc là ngôn ngữ đối chiếu. Trên cơ sở một sự xác định như vậy, ở các mục sau chúng tôi sẽ lần lượt đề cập đến từng vấn đề cụ thể liên quan đến loại từ điển này đối với thực tế biên soạn thời gian qua.

3. Thực trạng biên soạn từ điển Việt - dân tộc

Như chúng tôi đã nói ở phần đầu, cho đến hiện nay (2010), số lượng các từ điển Việt - Dân tộc đã thống kê được là 19 đầu sách. Xuất hiện sớm nhất là hai cuốn Từ điển Việt - Khơme của Hoàng Học và Từ điển Việt - Giarai của Rơmah Đêl (1977). Cuốn từ điển mới nhất mà chúng tôi có được là Từ điển Việt - Mnông do Nguyễn Kiên Trường và Trương Anh chủ biên được NXB Từ điển Bách khoa in năm 2010.

Sau đây là một số vấn đề mà chúng tôi muốn đề cập khi xem xét lại những công trình đã được xuất bản.

3.1. Về việc xác định đối tượng và mục đích của từ điển Việt - Dân tộc

Trong số 19 đầu sách đã được biên soạn hầu hết các công trình đều xác định rõ đối tượng của mình như sau:

- Đồng bào dân tộc có ngôn ngữ được sử dụng để biên soạn trong từ điển (ngôn ngữ đối chiếu);

- Cán bộ người Kinh và người các dân tộc khác công tác ở vùng đồng bào các dân tộc có ngôn ngữ được biên soạn;

- Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ quan tâm đến tiếng Việt trong mối quan hệ với ngôn ngữ dân tộc đó.

Với ba đối tượng vừa nêu trên thì đối tượng thứ nhất bao giờ cũng được xem là đối tượng chính. Chẳng hạn, ở Lời nói đầu của Từ điển Việt - Êđê, các tác giả viết: “Cuốn Từ điển Việt - Êđê được nghiên cứu, biên soạn và xuất bản lần này… nhằm mục đích khiêm tốn là giúp đồng bào dân tộc Êđê - nhất là học sinh phổ thông có điều kiện học tốt tiếng phổ thông (tiếng Việt) và củng cố khả năng sử dụng tiếng mẹ đẻ của mình. Bên cạnh việc xác định rõ ràng các đối tượng phục vụ như trên, ở một số cuốn từ điển, nhiệm vụ này hình như chưa được quan tâm một cách thính đáng. Trong Lời nói đầu của Từ điển Việt - Tày-Nùng (1983) các tác giả viết: “Quyển sách này… giúp những người hàng ngày công tác có tiếp xúc với tiếng Tày-Nùng và tiếng Việt”…

Song song với việc xác định đối tượng như vậy, các từ điển Việt - Dân tộc đồng thời cũng xác định mục đích mà người biên soạn hướng đến. Ngoại trừ một số từ điển nêu mục đích một cách hết sức chung chung thì đại bộ phận đều nêu rõ:

- Phục vụ cho việc học tiếng Việt đối với người đồng bào dân tộc, đây được xem là mục đích chủ yếu trong các từ điển;

- Phục vụ cho việc học tiếng dân tộc bản địa đối với các cán bộ là người Kinh và các dân tộc khác;

- Phục vụ cho công tác nghiên cứu tiếng dân tộc được biên soạn;

Vấn đề đặt ra ở đây là, đối với từ điển Việt - Dân tộc, việc xác định mục đích như vậy đã hợp lí chưa?

Như chúng ta đều biết, khi nói đến chức năng của từ điển song ngữ, các nhà từ điển học đều nhấn mạnh tới hai khía cạnh: a) giúp người đọc hiểu được ngôn ngữ đích (L2) b) giúp người đọc tái tạo (viết và phần nào nói) được ngôn ngữ đích (L2). Theo một số nhà khoa học, để đáp ứng tốt hai chức năng này, với hai loại đối tượng là người Kinh và người một dân tộc cụ thể nào đó (chẳng hạn người Êđê) thì cần biên soạn 4 cuốn từ điển khác nhau: 2 cuốn từ điển Việt - Êđê (một cho người Êđê, một cho người Kinh); 2 cuốn từ điển Êđê - Việt (một cho người Kinh, một cho người Êđê). Đây là một ý tưởng tốt nhưng trên thực tế thì rất khó thực hiện. Xu hướng hiện nay và qua thực tế biên soạn, nhiều nhà khoa học cho rằng, đối với trường hợp như vừa nêu thì chỉ cần biên soạn hai cuốn “Việt - Êđê” và “Êđê - Việt” là đủ. Dĩ nhiên, điều này đòi hỏi trong một cuốn từ điển phải có sự kết hợp cả hai chức năng hiểu tái tạo. Như thế, cùng một cuốn từ điển nhưng với các đối tượng khác nhau chúng sẽ có chức năng khác nhau.

Trở lại các từ điển Việt - Dân tộc, chúng tôi thẩy rằng, xét trong bối cảnh cụ thể của nước ta, việc xác định đối tượng cũng như mục đích với những ưu tiên khác nhau của phần lớn các từ điển, như đã thấy, là một sự cân nhắc đúng đắn. Từ điển Việt - Dân tộc trước hết phải là công cụ giúp đồng bào dân tộc đọc và hiểu tiếng Việt, đây phải là nhiệm vụ chính, ưu tiên hàng đầu; Sau đó, mới là công cụ giúp người Kinh học nói và học viết tiếng dân tộc, tài liệu giúp cho việc nghiên cứu ngôn ngữ học... Khẳng định như vậy, chúng tôi cũng muốn lưu ý rằng, cách xác định đối tượng cũng như mục đích của một số từ điển kiểu như từ điển Việt - Tày-Nùng (1983), Từ điển Việt - Chăm (1996)… mặc dù không sai nhưng rất mơ hồ. Và điều này dĩ nhiên sẽ gây khó khăn cho việc đánh giá chất lượng của từ điển. Xin nhớ rằng, một cuốn từ điển Viêt - Dân tộc hoặc Dân tộc - Việt cùng lúc không thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu của cả hai đối tượng là người dân tộc và người Kinh.

3.2. Về cấu trúc vĩ mô của từ điển Việt - Dân tộc

Theo lí thuyết từ điển học, cấu trúc vĩ mô (macro-structure) của từ điển được hiểu là tổng thể các mục từ được sắp xếp theo một trật tự nhất định nào đó. Vì thế, khi xem xét các cấu trúc vĩ mô của một cuốn từ điển nào đó, người ta thường quan tâm đến các nội dung như: số lượng mục từ của từ điển; đặc điểm của các đơn vị mục từ được lựa chọn; trật tự sắp xếp các mục từ.

Việc khảo sát cấu trúc vĩ mô của từ điển Việt - Dân tộc theo các nội dung trên cho thấy một tình hình như sau:

3.2.1. Nếu như các từ điển song ngữ Ngoại ngữ - Việt hoặc Việt - Ngoại ngữ thường có số lượng mục từ từ 30.000 đơn vị trở lên (chẳng hạn, Từ điển Anh - Việt của Lê Khả Kế (NXB Khoa học xã hội, 1997) có 350.000 mục từ, Từ điển Anh - Việt tiện dụng của Hữu Ngọc, Nguyễn Trọng Hiệp… (NXB Thế giới, 1995) có 35.000 từ, v.v.) thì các từ điển Việt - Dân tộc số lượng mục từ ít hơn rất nhiều. Kết quả thống kê của chúng tôi cho thấy, trong số 19 đầu sách đã xuất bản, Từ điển Việt - Xơđăng (NXB Văn hoá Thông tin, 2008) có số lượng mục từ nhỏ nhất với 4.000 đơn vị. Từ điển Việt - Dân tộc có số lượng mục từ lớn nhất là Từ điển Việt - Tày-Nùng (NXB Khoa học xã hội, 1984) với 15.000 mục từ. Phần lớn các từ điển Việt - Dân tộc có dung lượng từ 5.000 đến 6.000 mục từ. Các từ điển từ 10.000 đến 15.000 mục từ không nhiều. Như vậy, nếu xét về mặt dung lượng thì tất cả các từ điển Việt - Dân tộc hiện có đều là những từ điển thuộc cỡ nhỏ, thậm chí là rất nhỏ. Các từ điển cỡ trung và cỡ lớn là chưa có. Vấn đề đặt ra ở đây là, với một dung lượng mục từ như vậy, loại từ điển này đã đáp ứng được nhu cầu của các độc giả hiện nay hay chưa? Câu trả lời là chưa. Theo chúng tôi, nếu chỉ thuần tuý xem xét từ mặt chuyên môn không thôi, dung lượng từ điển từ 5.000 mục từ trở xuống có lẽ cũng cần phải xem xét thêm. Với mục đích chính là dạy tiếng Việt cho đồng bào dân tộc, trong tình hình hiện nay, dung lượng từ điển Việt-dân tộc có lẽ nên được xây dựng từ 10.000 đơn vị mục từ trở lên.

3.2.2. Vấn đề thứ hai mà chúng tôi muốn đề cập đến là cách lựa chọn các đơn vị mục từ

Phải nói ngay rằng, hầu như tất cả các từ điển Việt - Dân tộc khi xây dựng bảng từ đều dựa vào từ điển tiếng Việt do Viện Ngôn ngữ học biên soạn (mặc dù có một số cuốn không nói thẳng như thế). Đây là một sự lựa chọn đúng đắn, bởi vì như chúng ta đã biết, Từ điển tiếng Việt do Viện Ngôn ngữ học biên soạn là một công trình có uy tín bậc nhất hiện nay. Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng, trong tuyên bố cũng như trong thực tế biên soạn, mỗi soạn giả, tuỳ thuộc vào mục đích đối tượng cụ thể, đã đề ra những quy tắc lựa chọn riêng. Những điểm chung dễ nhận thấy của các từ điểnViệt - Dân tộc trong quá trình thu thập bảng từ được thể hiện ở chỗ:

- Chú trọng thu thập các đơn vị từ ngữ cơ bản, thường dùng của tiếng Việt

- Không thu thập các đơn vị dưới từ (từ tố)

- Không thu thập các từ cổ, các từ tắt, các khuôn hình ngữ pháp

Ngoài những điểm chung trên đây, những quy tắc lựa chọn riêng khá đa dạng nhưng có thể thấy một tình hình như sau:

- Phần lớn các từ điển không thu thập các từ ngữ có tính chất địa phương, các từ tục, tiếng lóng, danh từ riêng. Thuộc vào loại này có thể kể đến Từ điển Việt - Tày-Nùng (1984), Từ điển Việt - Gia Rai (1977), Từ điển Việt - Êđê (1993), Từ điển Việt - Mnông (2010), Từ điển Việt - Banna (1998), Từ điển Việt - Kơho (1983), v.v. Ngược lại, có một số từ điển thì lại có chủ trương thu thập mảng từ ngữ trên nhưng ở mức độ rất hạn chế như: Từ điển Việt - Chăm (1977), Từ điển Việt - Khơme (1977)…

- Đối với các cụm từ cố định, thuật ngữ chuyên môn cũng nằm trong tình trạng tương tự. Nghĩa là có từ điển thu thập như: Từ điển Việt - Êđê, Từ điển Việt - Khơme (1977), Từ điển Việt - Chăm (1996), v.v.; Có từ điển thì không như Từ điển Việt - Cơtu (2007), Từ điển Việt - Xơđăng (2008), Từ điển Việt - Mông (1996), v.v.

Tình trạng không thống nhất trên đây có thể bắt nguồn từ nhiều lí do khác nhau như: quy mô của từ điển, đối tượng cụ thể của từ điển, quan điểm của tác giả biên soạn, v.v. Chính vì vậy, việc đánh giá sự lựa chọn này trong các từ điển là rất khó khăn. Tuy nhiên, theo cách nhìn nhận của chúng tôi, đúng là có một số phạm vi khi xây dựng bảng từ không nên thu thập, đó là: từ ngữ cổ, các đơn vị dưới từ, danh từ riêng, tiếng lóng... Những phạm vi khác thì hoàn toàn có thể thu thập nhưng mức độ của nó phải căn cứ trên những hoàn cảnh cụ thể về dung lượng, đối tượng, mục đích của từ điển và dĩ nhiên là cả kinh phí, quỹ thời gian dùng để biên soạn.

3.2.3. Nếu như số lượng mục từ cũng như phạm vi các mục từ được lựa chọn còn có sự khác nhau đáng kể giữa các từ điển thì ở phương diện sắp xếp từ đầu mục, các từ điển lại có sự thống nhất tuyệt đối. Tất cả các từ điển Việt - Dân tộc hiện có đều sắp xếp theo trật tự bảng chữ cái quốc ngữ. Về nguyên tắc như chúng ta đã biết, ngoài cách sắp xếp này, các mục từ trong từ điển đối chiếu song ngữ cũng có thể được sắp xếp theo các nhóm nghĩa khác nhau (các trường từ vựng - ngữ nghĩa khác nhau). Tuy nhiên, ở nước ta, các từ điển kiểu này hầu như chưa được biên soạn. Thật ra, việc sắp xếp các mục từ theo các trường từ vựng - ngữ nghĩa cũng có những ưu điểm riêng nhưng quả thật đó là một công việc khá phức tạp. Vì thế, việc lựa chọn theo trật tự bảng chữ cái như các nhà biên soạn đã làm vẫn là một sự lựa chọn hợp lý và thực tế hơn cả.

3.3. Về cấu trúc vi mô của từ điển Việt - Dân tộc

Như chúng ta đã biết, cấu trúc vi mô (micro-structure) của một cuốn từ điển thường được hiểu là toàn bộ các thông tin được trình bày trong mỗi mục từ. Tuy nhiên ở đây cũng phải nói ngay rằng, việc đưa những thông tin nào vào mục từ lại phụ thuộc rất nhiều vào từng loại, từng cuốn từ điển cụ thể cũng như quan điểm của các soạn giả. Chính vì vậy khi xem xét một loại từ điển hoặc một cuốn từ điển cụ thể nào đó, rất cần phải có một cái nhìn thực tế. Nói như vậy chúng tôi muốn lưu ý rằng, cũng là loại từ điển đối chiếu song ngữ nhưng một cuốn từ điển Việt - Anh trong tương quan với từ điển Việt - Êđê (chẳng hạn), ngoài những điểm chung cơ bản ra, chắc chắn các thông tin vi mô của nó phải có những sự khác biệt nhất định. Xuất phát từ ý nghĩ đó, khi xem xét cấu trúc vi mô của từ điển Việt - Dân tộc, chúng tôi thấy có những điểm cần lưu ý sau đây:

3.3.1. Về sự lựa chọn chữ viết đối với các ngôn ngữ dân tộc

Đối với các từ điển đối chiếu Việt - ngoại ngữ; ngoại ngữ - Việt, việc lựa chọn chữ viết hầu như không bao giờ được đặt ra. Tuy nhiên khi tiến hành biên soạn một cuốn từ điển Việt - Dân tộc (và cả Dân tộc - Việt) thì đây phải là một trong những điều phải quan tâm trước tiên. Bởi vì có một thực tế là, bên cạnh nhiều ngôn ngữ các dân tộc ở nước ta chưa có chữ viết hoặc chỉ có một bộ chữ viết duy nhất thì một số ngôn ngữ lại có tới hai thậm chí ba, bốn bộ chữ viết khác nhau. Thêm nữa, mức độ phổ biến, tính pháp lí, sự tiện dụng của các bộ chữ viết này cũng rất khác nhau. Vì thế trong số các ngôn ngữ này, việc lựa chọn bộ chữ viết nào để đưa vào sử dụng trong từ điển là cả một vấn đề rất cần được cân nhắc cẩn thận. Trên thực tế, các từ điển Việt - Dân tộc thường có 2 xu hướng lựa chọn:

a) Đối với các ngôn ngữ có nhiều bộ chữ viết nhưng các bộ chữ viết này đều được sáng chế trên cơ sở mẫu tự Latin thì các soạn giả đều lựa chọn bộ chữ có tính pháp lí cao nhất (có sự phê chuẩn của chính phủ hoặc của uỷ ban nhân dân các tỉnh) hoặc đã được sử dụng phổ biến nhất để biên soạn. Đây là trường hợp của các từ điển: Việt - Cơ Ho, Việt - Cơtu, Việt - Xơ đăng, Việt - Mnông...

b) Đối với các ngôn ngữ vừa có chữ viết theo mẫu tự cổ Sanskrít vừa có chữ viết theo mẫu tự Latin kiểu như tiếng Chăm, tiếng Thái... thì cách xử lí có vẻ đa dạng hơn:

- Sử dụng cả chữ viết cổ lẫn chữ viết Latin. Đây là trường hợp của từ điển Việt - Chăm của hai tác giả Inrasara, Phan Xuân Thành (NXB Giáo dục, 1999).

- Chuyển tự chữ viết cổ sau đó phiên âm theo tiếng Việt. Đây là trường hợp từ điển Việt - Chăm của Trung tâm nghiên cứu Việt Nam – Đông Nam Á thuộc Trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (NXB Khoa học xã hội, 1996).

Những sự lựa chọn mà chúng ta vừa thấy ở trên, một mặt nó phản ánh tính phức tạp của vấn đề, mặt khác cũng thấy được sự nỗ lực cố gắng của các tác giả trong quá trình biên soạn. Theo sự nhìn nhận của chúng tôi, những cách xử lí đối với các ngôn ngữ dân tộc có nhiều bộ chữ viết như vừa nêu về cơ bản là phù hợp với thực tiễn và nó cần được ghi nhận.

3.3.2. Về cách lựa chọn phương ngữ để biên soạn từ điển

Thực ra, cách lựa chọn phương ngữ ở các ngôn ngữ dân tộc để biên soạn từ điển Việt - Dân tộc có liên quan chặt chẽ tới việc sử dụng chữ viết của các dân tộc. Vấn đề lựa chọn phương ngữ sẽ không được đặt ra đối với các ngôn ngữ mà hệ thống chữ viết của ngôn ngữ đó đã được sử dụng một cách phổ biến, lâu dài trong đời sống thực tế hàng ngày. Do chỗ phần nhiều ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở nước ta chưa có một ngôn ngữ văn hoá chung, các hệ thống chữ viết lại chưa có vai trò trong đời sống cho nên sự khác biệt giữa các phương ngữ thường có ảnh hưởng rất lớn đối với quá trình giao tiếp của các thành viên trong cùng một cộng đồng. Xuất phát từ thực tế này, khi làm từ điển, các nhà biên soạn thường phải chỉ rõ, họ đang sử dụng phương ngữ nào. Thông thường, phương ngữ được lựa chọn là phương ngữ tiêu biểu đã được sử dụng để xây dựng chữ viết. Chẳng hạn, từ điển Việt - Mông lấy tiếng Hmông Lềnh vùng Sapa để đối chiếu; từ điển Việt - Giarai lấy tiếng Giarai vùng Cheo Reo; từ điển Việt - Êđê lấy tiếng Êđê Kpă; từ điển Việt - Xơđăng lấy tiếng Xơ đăng ở huyện Đắc Tô... Bên cạnh sự lựa chọn này, cũng có những trường hợp, phương ngữ được lựa chọn không được coi là phương ngữ tiêu biểu cho cả dân tộc. Chẳng hạn, bên cạnh từ điển Việt - Mnông (2002, 2010) lấy phương ngữ Préh (một phương ngữ được coi là tiêu biểu cho dân tộc Mnông ở tỉnh Đắk Nông) để đối chiếu thì từ điển Việt - Mnông Lâm (2006) lại lấy phương ngữ của nhóm Lâm ở huyện Lak (tỉnh Đak Lak) để đối chiếu.

Đối với sự lựa chọn thứ nhất, vấn đề không cần phải bàn luận gì thêm. Nhưng đối với kiểu từ điển như Việt - Mnông Lâm mà chúng ta vừa thấy có lẽ cần phải xem xét thêm. Như chúng ta đều biết, đối với các ngôn ngữ chưa có chữ viết hoặc đã có chữ viết nhưng vai trò của chúng còn khiêm tốn thì sự cản trở trong giao tiếp giữa các nhóm phương ngữ nhiều khi là hết sức đáng kể. Tuy nhiên không phải vì thế mà chúng ta lại phải làm từ điển đối chiếu cho từng phương ngữ một. Ở đây chúng ta phải hết sức tránh tư tưởng cục bộ địa phương. Điều mà chúng ta cần quan tâm phải là lợi ích lâu dài của các dân tộc. Nên nhớ rằng, một trong những chức năng quan trọng của chữ viết là góp phần vào quá trình thống nhất ngôn ngữ. Việc làm từ điển đối chiếu đến từng phương ngữ rất có thể sẽ làm ảnh hưởng đến quá trình này và đó là điều không ai mong muốn. Trong những trường hợp cần thiết, tốt nhất là nên lấy phương ngữ đại diện nhưng có chú thích thêm phương ngữ đang cần quan tâm.

3.3.3. Vấn đề tìm các đơn vị tương đương trong khi biên soạn từ điển Việt - Dân tộc

Tìm đơn vị tương đương có lẽ là một trong những vấn đề phức tạp nhất của từ điển đối chiếu. Nói là phức tạp vì vấn đề này có sự liên quan hết sức chặt chẽ với đặc trưng văn hoá của từng dân tộc cũng như cách “phân chia” thế giới thông qua ngôn ngữ của họ. Xin lấy một ví dụ, trong tiếng Việt để biểu thị nội dung “đưa thức ăn vào miệng” chúng ta dùng từ “ăn”. Với từ này, người Việt có thể nói “ăn cơm, ăn thịt, ăn muối...” nhưng với người Cơ tu thì vấn đề lại không phải như vậy. Cũng là “ăn” nhưng tuỳ theo đối tượng, người Cơtu sẽ sử dụng các từ khác nhau: cha (dùng trong trường hợp đối tượng là cơm, quả, rau...), đăh (dùng trong trường hợp đối tượng là thịt, cá, chim, rắn...), bươm (dùng trong trường hợp đối tượng là ngô, mía, xương...). Vấn đề đặt ra ở đây là, trong thực tế biên soạn, đối với những trường hợp kiểu như vậy thì nên xử lí thế nào?

Việc xem xét các từ điển Việt - dân tộc cho phép chỉ ra một số hướng tìm đơn vị tương đương như sau:

3.3.3.1. Tương đương xét từ cấp độ ngôn ngữ (của mục từ)

Như chúng tôi đã nói ở mục 3.2.2; các đơn vị mục từ được thu thập trong các từ điển Việt - Dân tộc thường là các từ và ngữ (thường là ngữ cố định). Tuy nhiên, có một thực tế là, các từ điển có thu thập ngữ cố định không nhiều (chỉ có từ điển Việt - Êđê, Việt - Khmer, Việt - Chăm). Phần lớn các từ điển đều tập trung vào việc thu thập đơn vị từ. Ở các cuốn từ điển có thu thập cả từ và ngữ thì các soạn giả đều rất cố gắng tìm sự tương ứng:

Từ (tiếng Việt) – từ (ngôn ngữ dân tộc thiểu số)

Ngữ cố định (tiếng Việt) – ngữ cố định (ngôn ngữ dân tộc thiểu số)

Có thể lấy một số ví dụ của Từ điển Việt - Êđê để minh chứng cho cách lựa chọn này:

Tiếng Việt

Tiếng Êđê

Dao

Dhõng (tr. 139)

Dành dụm

mkiêt mkuôm

(tr. 139)

Ăn nên đọi,

nói nên lời

Huă kdrăm, mnăm kdrưh (tr. 9)

Ở các đơn vị mục từ là từ, các soạn giả hầu như không để ý đến việc tìm hình thức cấu trúc tương đương. Ở lời nói đầu cũng như phần nguyên tắc, thể lệ biên soạn của các từ điển Việt - Dân tộc không có tác giả nào đề cập đến vấn đề này. Tuy nhiên, trong thực tế biên soạn thì cách lựa chọn từ đơn tiếng Việt tương ứng với từ đơn ngôn ngữ dân tộc thiểu số; từ ghép tiếng Việt tương ứng với từ ghép ngôn ngữ các dân tộc thiểu số cũng là cách lựa chọn phổ biến, ví dụ Từ điển Việt - Mnông, 2002:

Tiếng Việt

Tiếng Mnông

Dặn

ntăm

Dặn dò

ntễnh ntăm

Dạy

nti

Dạy bảo

nti sơn

Thực ra, do cấu trúc hình thức của các ngôn ngữ là không như nhau do vậy trong việc biên soạn từ điển đối chiếu, đây không phải là quy tắc bắt buộc. Tuy vậy, theo chúng tôi nếu có một sự quan tâm nào đó đến vấn đề này thì đó cũng là một tư tưởng rất đáng được khuyến khích, phát huy.

3.3.3.2. Tương đương về mặt ngữ nghĩa

Khi đối chiếu các đơn vị mục từ của tiếng Việt với các ngôn ngữ dân tộc thiếu số để tìm sự tương đương về mặt ngữ nghĩa, các soạn giả đều phải đối mặt với các trường hợp sau:

a) Từ, ngữ tiếng Việt có sự tương đương với từ, ngữ trong các ngôn ngữ dân tộc thiểu số;

b) Từ, ngữ tiếng Việt không tìm được các đơn vị tương đương trong ngôn ngữ dân tộc thiểu số.

Riêng trường hợp (a) lại xảy ra hai tình huống: thứ nhất, các đơn vị trong hai ngôn ngữ (đối chiếu và được đối chiếu) có sự tương đồng hoàn toàn; thứ hai, các đơn vị đối chiếu chỉ tương đương một phần.

Trường hợp có sự tương đương hoàn toàn hầu như không có vấn đề gì cần bàn thêm. Các trường hợp còn lại thường được xử lí như sau:

Đối với trường hợp tương đương không hoàn toàn, một từ (ngữ) tiếng Việt có thể được đối chiếu với hai hay nhiều từ (ngữ) trong ngôn ngữ dân tộc thiểu số và kèm theo đó là các ví dụ chỉ rõ ngữ cảnh sử dụng của từng trường hợp một. Đây là cách xử lí của đại bộ phận các từ điển như: Việt - Êđê (1993); Việt - Tày-Nùng (NXB Giáo dục, 1999); Việt - Cơ Ho (1983); Việt - Mông (1999); Việt - Mnông (2002); Việt - Xơ đăng (2008)… Có thể dẫn trường hợp mục từ “ăn” (tr. 12) của từ điển Việt - Cơ Ho làm ví dụ:

Ăn: sa, sàu

Tôi ăn dưa: Anh sa rơpung

Tôi ăn cơm: Anh sàu

Trường hợp không tìm được từ (ngữ) tương đương trong ngôn ngữ dân tộc thì phần lớn các từ điển dùng ngôn ngữ dân tộc để giải thích hoặc dùng ngôn ngữ dân tộc để phiên âm. Ví dụ: Từ điển Việt - Gia Rai (NXB Khoa học xã hội, 1997).

bạn đời (pô gơyut hơdip hrõm)

thủ đô (Thu đô) (tr. 7)

Có soạn giả cẩn thận hơn thì sử dụng cả phiên âm có kèm theo lời giải thích. Từ điển Việt - Tày-Nùng (1983) của hai tác giả Hoàng Văn Ma, Lục Văn Bảo đã xử lí như vậy, ví dụ (tr. 18):

anh hùng: anh hùng (cần mỉ sluc rèng, tài tảm hêt pền công cải đuổi nước rườn)

Những cách xử lí này là hoàn toàn hợp lí và nó cần được phát huy, bởi vì trên thực tế việc vay mượn tiếng Việt của các ngôn ngữ dân tộc thiểu số ngày càng sâu, rộng đặc biệt là ở các lĩnh vực khoa học kĩ thuật, công nghệ.

Bên cạnh những cách xử lí như trên, cũng còn một số từ điển không cho thấy quan điểm rõ ràng về những trường hợp đã nêu (ví dụ: Từ điển Việt - Khơme, 1977). Đây là khiếm khuyết cần được khắc phục kịp thời.

3.3.4. Liên quan đến vấn đề tương đương về nghĩa là trường hợp các từ đa nghĩa trong ngôn ngữ được đối chiếu (L1).

Về mặt lí thuyết, có hai giải pháp cho vấn đề này.

- Giải pháp thứ nhất. Tách các nghĩa của từ đa nghĩa thành các mục từ riêng và chỉ rõ phạm vi, sắc thái sử dụng của chúng;

- Giải pháp thứ hai. Các nghĩa của từ đa nghĩa được xếp chung vào một mục từ theo nguyên tắc nghĩa gốc xếp trước, nghĩa bóng, nghĩa phái sinh xếp sau và chúng được đánh số thứ tự bằng chữ số Ả rập.

Trên thực tế, hầu như tất cả các từ điển Việt - Dân tộc đã xuất bản đều lựa chọn giải pháp thứ hai. Cách lựa chọn này là hợp lí. Tuy nhiên, trong hầu hết các từ điển, các soạn giả cũng chỉ đối chiếu những nghĩa cơ bản nhất, thường được dùng nhất; còn những nghĩa ít được dùng hầu như không được nhắc đến.

3.3.5. Vấn đề cuối cùng: Cách xử lí các từ đồng âm

Trong các từ điển Việt - Dân tộc có hai cách xử lí đối với hiện tượng này.

Cách thứ nhất. Tất cả hiện tượng đồng âm (dù chỉ là khác gốc hay cùng gốc) đều được tách thành một mục từ riêng. Cách xử lý này được tìm thấy trong các từ điển như: Việt - Mông (1996). Việt - Chăm (1996). Việt - Gia Rai (1977), Việt - M’nông (2010), Việt - Xơ Đăng (2008).

Cách thứ hai. Các hiện tượng đồng âm , cùng gốc được xếp chung một mục từ, giống như trường đa nghĩa nhưng được đánh số bằng chữ số La Mã; còn các hiện tượng đồng âm, khác gốc sẽ tách thành một mục từ riêng có đánh số Ả rập phía dưới. Ví dụ: (Từ điển Việt - Ê đê).

Dàn. I. Rah. Đứng – ra hai bên đường: Dôk rah dua nah êlan.

II. Rĩng. – nhạc: Rĩng Brỗ hgơr

Dang 1. Tang. Ống - : Đing tang                                       

Dang 2. Yah. Chim – cánh bay: Cim yah siap phiơr.

Cách xử lí này được tìm thấy trong các từ điển: Việt - Êđê (1993), Việt - Kơ Ho (1983), Việt - Khmer (2004), Việt - Jrai (2005)... Điều đáng lưu ý là, trên thực tế trong khi xử lí những cách trên đây, có những từ điển thường lẫn lộn giữa đa nghĩa và đồng âm kể cả những trường hợp đồng âm khác gốc, ví dụ Từ điển Việt - M’nông 2010.

a, biển (d) 1. rlai. Biển đông Rlai mpeh lơ

2. mpơng. Biển báo Mpơng hưn

b, mun 1 (d) mun. kiêng. Cây mun làng tôi... Tơm mun bon gâp hõ...

mun 2 (t) mun. Tóc em đen như mun. Sõk oh ôch tâm ban ma mun

Trong hai cách xử lí vừa nêu ở trên, theo chúng tôi nên lựa chọn cách thứ nhất. Đã là từ đồng âm thì bất luận cùng gốc hay khác gốc đều là những đơn vị từ vựng khác nhau vì thế không nên để chung vào một mục từ. Việc tách chúng thành những mục từ riêng biệt không những đúng về mặt lý thuyết mà trên thực tế việc sử dụng từ điển cũng dễ dàng, thuận lợi hơn.

4. Một số nhận xét

Bước đầu xem xét các từ điển Việt - Dân tộc đã được xuất bản, cho phép chúng tôi đưa ra một số nhận xét chung sau.

4.1. Chúng ta có 53 dân tộc thiểu số, nhưng mới chỉ có tiếng của 11 dân tộc được biên soạn từ điển trong sự đối chiếu với tiếng Việt. Đây là một con số còn hết sức khiêm tốn, hoàn toàn chưa tương xứng với chức năng và nhu cầu học tiếng Việt với tư cách là ngôn ngữ quốc gia – phương diện giao tiếp chung giữa các dân tộc. Thực tế này đòi hỏi các nhà khoa học, các cơ quan hữu quan cần phải nỗ lực và quan tâm nhiều hơn nữa;

4.2. Việc xác định tính chất của loại hình từ điển Việt - Dân tộc hầu như không có sự khác biệt. Tất cả các soạn giả đều ý thức một cách hết sức rõ ràng: Đây là loại từ điển đối dịch. Sự nhận thức đúng đắn này là cơ sở quan trọng giúp cho các soạn giả không đi chệch hướng trong quá trình biên soạn;

4.3. Mỗi một cuốn từ điển có thể hướng đến nhiều mục đích khác nhau nhưng mục đích quan trọng nhất của từ điển Việt - Dân tộc, trước hết là phục vụ cho việc dạy và học tiếng Việt đối với đồng bào các dân tộc thiểu số. Phần lớn các tác giả đã tham gia biên soạn từ điển Việt - Dân tộc đều nhận thức rõ ràng tầm quan trọng của mục đích này. Đi sâu hơn nữa, những người đã và sẽ tiếp tục công việc này cần phải xá định rõ, đây là công cụ chủ yếu giúp đồng bào các dân tộc hiểu được tiếng Việt ở các khía cạnh nghe, đọc. Vì vậy khi xây dựng cấu trúc vĩ mô cũng như cấu trúc vi mô của từ điển, chúng ta cần phải hướng đến các nội dung nhằm làm thoả mãn mục tiêu đặt ra. Trên thực tế biên soạn, có thể nói, phần lớn các từ điển như: Việt - Êđê, Việt - Cơ Ho, Việt - Tày-Nùng, Việt - Gia Rai... đã thực hiện khá tốt yêu cầu này;

4.4. Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng ở phương diện cấu trúc vĩ mô, dung lượng mục từ của các từ điển cần phải được đầu tư nhiều hơn nữa. Với sự phát triển kinh tế xã hội như hiện nay, rõ ràng các cuốn từ điển chỉ xoay quanh 5.000 - 6.000 mục từ là chưa xứng tầm. Ngoài các đơn vị cơ bản thường dùng của tiếng Việt cần phải mở rộng việc thu thập các lớp từ khác, đặc biệt là các thuật ngữ thông thường thuộc các ngành nghề khác nhau (dĩ nhiên loại trừ các thuật ngữ quá chuyên sâu).

Thông tin được trình bày trong các mục từ (cấu trúc vi mô) ở các từ điển Việt - Dân tộc nhìn chung mới chỉ dừng lại ở việc tìm các đơn vị tương đương; các thông tin khác rất ít được chú ý. Đây là điều mà chúng ta cần phải lưu tâm hơn cho những công trình biên soạn về sau.

THƯ MỤC THAM KHẢO

TIẾNG VIỆT

[1] Chu Bích Thu, Một số nét khái quát về cấu trúc vĩ mô của từ điển giải thích // “Một số vấn đề Từ điển học, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997.

[2] Bùi Khánh Thế, Mấy vấn đề về biên soạn cuốn từ điển Chăm - Việt, “Ngôn ngữ & Đời sống, s. 1-1996.

[3] Dương Kỳ Đức, Cấu trúc bảng từ của từ điển Việt - ngoại (qua thí dụ từ điển Việt - Nga) // “Tiếng Việt và các ngôn ngữ Đông Nam Á”, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1988.

[4] Đặng Chấn Liêu, Về một vài kinh nghiệm trong việc làm từ điển song ngữ Anh - Việt, “Ngôn ngữ”, s. 4-1979.

[5] Đặng Chấn Liêu, Vài kinh nghiệm làm từ điển hai thứ tiếng, “Ngôn ngữ”, s. 3-1997.

[6] Đức Kỳ, Từ điển Mèo - Việt, “Ngôn ngữ”, s. 4-1971.

[7] Hồ Hải Thuỵ, Suy nghĩ lại về làm từ điển, “Ngôn ngữ & Đời sống”, s. 12-2004, và s. 1+2-2005.

[8] Hồ Hải Thuỵ, Hai cuốn sách mới dạy cách làm từ điển, “Từ điển học & Bách khoa thư”, s. 4-2010).

[9] Hoàng Phê, Nguyễn Ngọc Trâm, Một số vấn đề từ điển học // Một số vấn đề Từ điển học, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội,1997.

[10] Lê Khả Kế, Về một vài kinh nghiệm trong việc làm từ điển song ngữ Anh- Việt, “Ngôn ngữ”, s. 4-1999.

[11] Nguyễn Ngọc Trâm, Một vài nhận xét về câú trúc vĩ mô của từ điển giải thích tiếng Việt // “Một số vấn đề từ điển học”, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997.

[12] Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên), Lược sử Việt ngữ học, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2005.

[13] Nguyễn Văn Khang, Nguyễn Thị Tân, Về Từ điển Trung - Việt, “Ngôn ngữ”, s. 4-1992.

[14] Trần Thị Hiền, Một số vấn đề của từ điển song ngữ (qua tư liệu từ đin song ngữ Anh - Việt) // “Những vấn đề Ngôn ngữ học”, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.

[15] Vũ Quang Hào, Kiểm kê từ điển học Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005.

[16] Nguyễn Tuyết Minh, Một số vấn đề lí luận chung về từ điển học và từ điển song ngữ // Một số vấn đề cơ bản về lí luận và phương pháp luận của thế giới và Việt Nam về biên soạn các loại từ điển” (Đề tài cấp Bộ 2009-2010).

[17] Zgusta L., Giáo trình từ điển học, Prague and the Hague, 1971 (Bản dịch của Viện Ngôn ngữ).

 

TIẾNG NƯỚC NGOÀI

[18] Atkin B. U. Sue and Michel Rudell, 2008. Oxford Guide to Practical Lexicography, OUP,

[19] Encyclopadia of linguistics, Lexicography, Edite by Rasher, 1992.

[20] Берков В. П. (Berkov V. P.), Từ điển học song ngữ. NXB Đại học Tổng hợp St-Petersburg, St-Petersburg, 1996 (tiếng Nga).

[21] Городецкий Б. Ю. (Gorodeckij B. Ju.), Những vấn đề và các phương pháp của từ điển học hiện đại //Cái mới trong ngôn ngữ học nước ngoài, Moskva, 1983 (tiếng Nga).

SUMMARY

The bilingual dictionaries of Vietnamese and other languages of the ethnic groups in Vietnam (for example, Từ điển Việt - Khmer, Từ điển Việt - Thái, Từ điển Việt - Tày-Nùng, Từ điển Việt - Cơtu,...) are an issue of interest in the Policy on Languages of the State of Vietnam. According to the author, up to now, there are as many as 19 dictionaries as such. Through actual surveys, the author provides judgments about purpose of composing, macrostructure, microstructure, choice of entries, etc. of dictionaries of this category so as to provide lexicographs with better ways whilst composing subsequent dictionaries.


Tạp chí Từ điển học và Bách khoa thư, số 03, năm 2011