Từ điển học trên đường học tập và nghiên cứu (Tiếp theo kì trước phần III)

03/07/2013

GS.TS LÝ TOÀN THẮNG

 

BÀI THỨ BA

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CẤU TRÚC VI MÔ CỦA TỪ ĐIỂN

Sau hai bài về hai chuyện “Từ điển học” và “Loại hình học từ điển”, chúng tôi thiển nghĩ, tiếp theo có hai chuyện khác, đều hết sức quan trọng, mà chúng ta không thể bỏ qua khi học tập và nghiên cứu về từ điển học (lí thuyết cũng như thực hành) đó là cấu trúc vĩ mô (macro-structure) cấu trúc vi mô (micro-structure) của từ điển: một cái liên quan đến danh sách chung các từ (bảng từ) được đưa vào từ điển, và một cái liên quan đến từng mục từ cụ thể (tiếng Nga: словарная статья; tiếng Anh: entry).

Mục đích của bài viết này là nhắm vào cấu trúc vi mô, và câu chuyện này chủ yếu được nhìn từ góc độ của các học giả người Nga.

Nhưng trước hết, chúng ta hãy thử nhìn lại, xem ở Việt Nam các nhà từ điển học đã viết gì về chuyện này.

1. Nghiên cứu cấu trúc vi mô của từ điển ở Việt Nam

Trước tiên có hai điều cần được giới thuyết rõ:

 (i) Từ điển học ở Việt Nam chủ yếu là khoanh vùng ở khu vực của “từ điển ngôn ngữ học” (ở ta hay quen gọi là: “từ điển ngữ văn”), và trong khu vực đó lại thu hẹp hơn - chỉ ở một kiểu loại chính là “từ điển tường giải/giải thích” và chủ yếu là “đơn ngữ” (tiếng Việt);

 (ii) Nguồn ngữ liệu của những bài nghiên cứu, do đó, chủ yếu cũng là dựa vào công trình tập thể “Từ điển tiếng Việt” do Hoàng Phê chủ biên (in lần đầu năm 1988 và đã tái bản nhiều lần).

Hai điều vừa trình bày trên cần được chúng ta lưu ý khi đánh giá về sự nghiên cứu cấu trúc vi mô của từ điển ở Việt Nam.

Nói về “cấu trúc vi mô” không thể không nhắc đến hai bài viết chuyên đề rất công phu của Chu Bích Thu và Đào Thản trong vựng tập “Một số vấn đề từ điển học” (1997). Tuy nhiên, chúng tôi sẽ không tường trình “tất cả mọi chuyện” của hai bài báo này ở đây (vì bạn đọc có thể tự tìm đọc chúng) mà chỉ nhắc lại một vài ý chính - có liên quan đến mục 2 dưới đây nói về quan điểm của các học giả Nga.

Nói chung, ở Việt Nam, cấu trúc vi mô cuả từ điển giải thích (đơn ngữ) được hiểu là cấu trúc mục từ, bao gồm toàn bộ những thông tin/tri thức được trình bày trong mục từ đó. Mỗi yếu tố của cấu trúc vi mô mang một thông tin nhất định và thông tin này được diễn đạt bằng một phương tiện nào đó. Ta hãy tìm hiểu những điều này qua một ví dụ cụ thể sau:

ba d. [ph] cha [chỉ dùng để xưng gọi]. Thưa ba con đi học!

Trong thí dụ này, ta có:

(i) ba là yếu tố “đầu mục” mà các thông tin trực tiếp liên quan đến;

(ii) d là yếu tố mang thông tin ngữ pháp về từ loại “danh từ” của ba; [chỉ dùng để xưng gọi] là lời chú, cũng là yếu tố mang thông tin ngữ pháp về công năng của ba. Phương tiện ngôn ngữ ở đây là hình thức “chữ chú” (hay kí chú) mà trên văn tự ta thấy đó là con chữ viết tắt: d.;

(iii) [ph] là chữ chú (hay kí chú), là yếu tố mang thông tin từ vựng về sắc thái địa phương cuả ba (so với cha, bố);

(iv) cha là yếu tố mang thông tin ngữ nghĩa, là lời định nghĩa (hay lời giải thích) về nghĩa của từ đầu mục ba. Tuy nhiên, trường hợp này hơi đặc biệt, đây là cách “chuyển chú”, tức là: ba có nghĩa như cha = ‘người đàn ông có con, trong quan hệ với con’;

(v) Thưa ba con đi học! là thí dụ, một yếu tố đặc biệt, mang thông tin về cách dùng từ ba.

Qua ví dụ này, ta thấy nổi lên mấy sự phân biệt sau trong cấu trúc vi mô của mục từ:

 (i) Sự phân biệt giữa hai “phần/bộ phận” cấu thành

+ Phần chính/hạt nhân/trung tâm, là phần giải thích nghĩa, bắt buộc phải có như: ba = cha. Đây là phần mang thông tin về nội dung định nghĩa/khái niệm của từ đầu mục;

+ Phần phụ/bổ sung, là phần chú thích/chú giải/chú dẫn/chỉ dẫn ( về chữ viết, ngữ pháp, ngữ dụng, v.v.) có thể không bắt buộc, như các chữ chú: d., [ph], lời chú [chỉ dùng để xưng gọi], hay thí dụ: Thưa ba con đi học! Đây là phần mang thông tin (về từ đầu mục - như một) kí hiệu ngôn ngữ.

 (ii) Sự phân biệt nhiều loại thông tin trong một mục từ

+ Thông tin ngữ nghĩa, phần thông tin hạt nhân: au. [màu sắc, thường là đ] tươi ửng lên, trông thích mắt;

+ Thông tin phi ngữ nghĩa, phần thông tin bổ sung, gồm:

- thông tin về ngữ âm: bậm x. bặm (x. = xem)

- thông tin về chính tả: ký giả cv. kí giả (cv. = cũng viết)

- thông tin về từ vựng: heo (ph.). lợn (ph. = phương ngữ)

- thông tin về ngữ pháp: lắm. t. (thường dùng trước d. ) (t. = tính từ, d. = danh từ)

- thông tin về ngữ dụng: bán xới [kng.] (kng. = khẩu ngữ)

- thông tin về phong cách: ái ân [vch.] (vch. = văn chương)

- thông tin về từ nguyên

- thông tin về đồng nghĩa, trái nghĩa

- v.v.

Theo Chu Bích Thu, có 13 yếu tố (thông tin) tạo thành cấu trúc vi mô của mục từ, xếp theo vị trí thường gặp của chúng, như sau: chính tả, ngữ âm, từ loại, phong cách, phạm vi sử dụng, kết hợp cú pháp, kết hợp từ vựng, định nghĩa, kết hợp từ vựng-cú pháp, định hướng ngữ dụng, đồng - trái nghĩa, ví dụ.

Đào Thản muốn khái quát hơn, cho nên ngoài nội dung định nghĩa (lời giải thích), ông chỉ đưa ra 5 loại “chú” (chữ dùng của ông), mang thông tin bổ sung trong các mục từ, như sau:

+ Chú về ngữ âm, chữ viết, chính tả: cn., cv., viết hoa, nói tắt,…

+ Chú về ngữ pháp: gồm 8 kí chú (d., đ., t.,...) và 30 lời chú kiểu: (dùng phụ trước đg.), (dùng làm phần chêm trong câu),…

+ Chú về từ vựng: (id.), (thgt.), (láy), (),…

+ Chú về phạm vi nghĩa: (nói khái quát), (ý nhấn mạnh), (thường chỉ nói về nam giới),… Loại chú này (có khoảng 30 mẫu) cần được phân biệt với các bộ phận trong ngoặc đơn nằm trong lời định nghĩa như trường hợp ngữ đoạn “người con gái” trong định nghĩa về từ phù dâu: d. (Người con gái) đi kèm bên cạnh cô dâu…

+ Chú về sắc thái biểu cảm, tu từ: vch., thgt., (hàm ý phê phán),…

 (iii) Sự phân biệt các kiểu định nghĩa, các mẫu định nghĩa dùng cho lời giải thích về nghĩa (với các yếu tố mang thông tin về nội dung ngữ nghĩa của từ đầu mục). Ta hãy thử so sánh 2 kiểu định nghĩa chính, thường gặp sau:

+ Kiểu phân tích nội dung nghĩa: đỉa d. giun đốt sống ở dưới nước, chuyên bám vào da người và động vật để hút máu; đỉa hẹ d. đỉa nhỏ, mảnh như lá hẹ.

+ Kiểu dựa vào từ đồng nghĩa hay trái nghĩa: bánh tây d. (cũ) bánh mỳ; heo d. (ph.) lợn ; chậm 3. không được nhanh nhẹn, thiếu linh hoạt; chén II đg. [thgt] ăn, về mặt coi như một thú vui.

Hay mẫu định nghĩa sau:

- ào ào t. từ mô phỏng tiếng gió…, tiếng nước…, tiếng ồn…

- ẳng t. từ mô phỏng tiếng chó kêu…

Tóm lại, có thể khái quát hoá như Chu Bích Thu rằng cấu trúc vi mô của mục từ có hai chuyện lớn:

a) Các yếu tố cấu thành cấu trúc vi mô đó – cũng tức là danh sách những thông tin trong mục từ; và:

 b) Cách tổ chức các yếu tố/thông tin này để làm thành “văn bản từ điển”.

Đánh giá một cách tổng quan, cần thấy rằng: trong hoàn cảnh Việt Nam những năm 90 của thế kỉ XX mà các nhà từ điển học của ta đã có được những hình dung như vừa nêu trên về cấu trúc vi mô của từ điển, thực sự đó là một thành tựu khoa học, có chất lượng và rất đáng được trân trọng.

Trong phần dưới đây, để bạn đọc dễ theo dõi, khi trình bày những quan điểm của các học giả Nga về cấu trúc vi mô của từ điển, chúng tôi cũng sẽ đề cập đến những vấn đề tương tự mà các nhà từ điển học Việt Nam đã có bàn.

2. Nghiên cứu cấu trúc vi mô của từ điển ở Nga

Thực ra khi nghiên cứu về cấu trúc vi mô của từ điển, các nhà từ điển học Việt Nam cũng đã có sự tìm hiểu quan điểm của các học giả Nga (điều này dễ thấy qua phần tài liệu tham khảo) như các bài báo của Aпресян (1988), Городецкий (1970), các vựng tập hay chuyên khảo về Từ điển học Nga và Xô viết (1981,1988). Tuy nhiên, đây đều là những tài liệu được xuất bản trước 1990 (và cũng chưa đầy đủ).

Vì lí do đó, dưới đây, chúng tôi sẽ tập trung giới thiệu một số quan điểm về cấu trúc vi mô của từ điển trong những công trình sau 1990, và trước hết là của Trường phái Nghĩa học Moskva về sự miêu tả “thống nhất” hay “tích hợp” ngôn ngữ nói chung và lí thuyết về từ điển học “hệ thống” nói riêng, mà năm 2006 Aпресян đã đề nghị một tên gọi khác nhiều hàm ý hơn là: Trường phái Nghĩa học Moskva Miêu tả tích hợp ngôn ngữ và Từ điển học hệ thống.

2.1. Nguyên lí miêu tả tích hợp một mục từ

Vì đã có trình bày về vấn đề này trong một số bài viết trước đây, nên ở đây chúng tôi chỉ xin nhắc lại rằng: Điều này có nghĩa là khi biên soạn từ điển với mỗi từ vị, ta phải cung cấp đầy đủ, chi tiết tất cả các thuộc tính của nó. Chính yêu cầu này đã là bàn đạp để các nhà từ điển học đề xuất một khái niệm mới liên quan đến cấu trúc vi mô của từ điển: “chân dung từ điển học (лексикографический портрет) mà chúng tôi cũng đã có giới thiệu. Nhà từ điển học hệ thống, theo tinh thần miêu tả tích hợp ngôn ngữ, cố gắng đưa ra toàn bộ các thuộc tính ngôn ngữ cơ bản của mỗi một từ vị - mỗi mộtthế giới vi mô” (микромир), và trong từ điển cái thế giới vi mô ấy phải được hiện lộ ra nhờ tất cả các mối liên hệ và tương tác (vốn xác định cuộc sống của nó trong ngôn ngữ và hành vi ứng xử của nó trong câu).

Có thể nêu ra một số đặc trưng nổi bật làm nên sự khác biệt chủ yếu giữa quan niệm “chân dung từ điển học” và cách miêu tả thông thường một cấu trúc mục từ như sau:

(i) Trong chân dung này sẽ có những kiểu thông tin mới về từ vị mà trước đây chưa được đưa vào từ điển;

(ii) Các thông tin vốn được đưa vào từ điển theo truyền thống trước đây nay được mở rộng ra rất nhiều; thí dụ thông tin về khả năng tổ hợp gồm cả về ngôn điệu, từ pháp, cú pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng, thông báo;

(iii) Cách thức tổ chức thông tin rất khác so với trong các từ điển truyền thống: trong mục từ phải thấy được sự tương tác qua lại giữa các khuôn mặt ” (ипостась) khác nhau của từ vị;

(iv) Sự khác nhau giữa “chân dung từ điển học” với cách miêu tả trong từ điển truyền thống còn ở cách thức giải thích ý nghĩa từ vựng của từ: Bởi vì, thực ra, “ý nghĩa” gồm một số lớp khác nhau như: khẳng định (ассерция), tiền giả định, khung tình thái, khung quan sát, duyên do (мотивировка);

(v) Chân dung từ điển học của mục từ được phác hoạ ra trên cái nền của một “kiểu nhóm từ điển học” (лексикографический тип) – tức là một nhóm từ vị có chung các thuộc tính (ngôn điệu, ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng,…) và do đó nó đòi hỏi việc miêu tả các từ vị trong nhóm phải rất thống nhất;

(vii) Tất cả mọi thông tin trong từ điển đều được “ghi” bằng cùng một thứ ngôn ngữ hình thức (giống như trong ngữ pháp). Cái siêu ngôn ngữ này trong các chân dung từ điển học có khác hơn ở từ điển tường giải thông thường (và thậm chí có phần “xa lạ” nữa).

Trong quan niệm “chân dung từ điển học” về miêu tả từ vị, đáng chú ý nhất là sự đổi mới trong quan niệm về thông tin ngữ nghĩa – cái cốt lõi của mọi từ điển tường giải. Về phương diện này, chẳng hạn, các nhà từ điển học hệ thống cho rằng: không thể giải thích hoàn hảo ý nghĩa của từ vị nếu trong mục từ không đưa ra được các chức năng từ vựng – tức là những cái như: đồng nghĩa, trái nghĩa, chuyển loại, thượng danh (гиперонимы), các phái sinh (дериваты) cú pháp và ngữ nghĩa và các từ phục vụ chúng.

Mặt khác, trong các “chân dung từ điển học”, người ta cố gắng chỉ ra được những mối liên hệ có lí do giữa các thuộc tính khác nhau của từ vị, như là mối liên hệ giữa ý nghĩa của từ vị về một phía, với các đặc trưng ngôn điệu và mô hình chi phối cú pháp về một phía khác.

2.2. Danh sách các thông tin trong mục từ - chân dung từ điển học

 Theo Aпресян, mục từ (chân dung từ điển học) nói chung gồm 8 “vùng” (зона) сơ bản (nghiã là có thể thêm nữa) và nội dung của các vùng này là các “kiểu thông tin từ điển học” (mà ông dựa trên các mục từ là động từ để tổng kết và minh hoạ):

1. Thông tin từ pháp (морфологическая), về 4 thuộc tính của từ vị, thí dụ một trong số đó là thông tin về thời, thể, giống, số, ngôi,… của từ vị động từ;

 [Lưu ý: Chúng tôi sẽ không nói kĩ ở đây về từng kiểu thông tin một, vì e là sẽ quá dài và đôi khi có thể khó hiểu với những bạn đọc không thông thạo tiếng Nga. Chúng tôi chỉ chọn nêu ra một số điểm cần thiết và hữu ích cho tiếng Việt].

2. Thông tin tu từ, điểm mới ở đây là không chỉ chú dẫn về mặt tu từ của ý nghĩa từ, mà có thể cả những cụm từ hiện thực hoá ý nghĩa đó;

3. Thông tin ngữ nghĩa (vì đây là phần quan trọng nên chúng tôi sẽ nói kĩ hơn), gồm:

3.1. Giải thích ý nghĩa từ theo cách phân ra các phần: khẳng định (động từ trong câu chính của lời giải thích); các tiền giả định (các đoản ngữ trạng động từ, động tính từ, hay câu phụ trong lời giải thích) và khung tình thái.

3.2. Các cách dùng khác nhau của cùng một nghĩa: thí dụ, với động từ быть trong cái nghĩa “nối kết” (như hệ từ) có tới 3 cách dùng chủ ngữ:

+ danh từ ở danh cách ИМ: Парень был слегка навеселе (Chàng trai đã hơi vui vẻ hơn)

+ danh từ ở thuộc cách РОД: Людей было много (Người đến nhiều)

+ động từ nguyên thể hay chủ ngữ mệnh đề: Ждать было негкода (chờ đợi - chẳng lấy đâu ra thời gian)

3.3. Các kết hợp từ vựng và ngữ pháp trong các điều kiện ngữ cảnh khác nhau:

3.4. Khả năng đối lập ngữ nghĩa giữa hai hình thức biểu đạt cùng một “ngữ pháp vị” (граммема). Thí dụ:

+ hình thức “zero”: мальчику три года (nghĩa là đứa bé đúng 3 tuổi)

+ hình thức có động từ есть ‘có, là’: мальчику есть три года (nghĩa là đứa bé đó không dưới 3 tuổi)

3.5. Các liên hệ ngữ nghĩa của từ vị đang xét với các từ vị khác trên trục hệ hình của ngôn ngữ, tức là: đồng nghĩa, gần nghĩa (аналоги), trái nghĩa, chuyển loại,…;

4. Thông tin ngữ dụng. Gồm 4 thuộc tính của từ vị, đáng chú ý là có cả thông tin về các chức năng ở lời/ngôn trung của từ vị, và về các liên hội (коннотация) từ vựng và liên tưởng (ассоциация) sự vật của nó (vốn khác với những thành tố nghĩa mà ta vẫn nói đến); thí dụ: động từ пилить ‘cưa’ có liên hội về sự đơn điệu, động từ стрелять ‘bắn’ có liên hội về sự nhanh nhẹn.

5. Thông tin ngôn điệu (просодическая) về khả năng mang trọng âm và thông báo (коммуникативная) về cương vị Đề - Thuyết của từ vị trong phát ngôn;

6. Thông tin về các mô hình chi phối (модель управления) của từ vị (động từ), về 5 thuộc tính:

6.1. Ngữ trị (валентность) ngữ nghĩa của từ vị được biểu thị bằng các đại lượng của một mệnh đề (tạo nên đầu vào lời giải thích); thí dụ: động từ вербовать ‘tuyển mộ’ có biểu thức ngữ trị như sau:

А вербует В из Х-а для У-а в/на С на Т

(A tuyển mộ B từ X để Y ở C trong thời gian T)

trong đó A - người đi tuyển mộ, B - người được tuyển mộ , X - đám người trong đó chọn ra B , Y - hoạt động mà B được tuyển làm, C - địa điểm mà B phải đến làm việc, T - thời gian B sẽ làm việc.

6.2. Các phương thức cú pháp (bề mặt) để thể hiện ngữ trị ngữ nghĩa, như: сác cách (падеж), các giới từ biểu thị cách, v.v.

6.3. Tính tuỳ nghi/bắt buộc (факультативность/обязателность) cú pháp của các ngữ trị.

6.4. Tính cộng cách/không cộng cách (соподчимость/несоподчимость) của các ngữ trị.

6.5. Khả năng cải biến các mô hình chi phối của cùng một ý nghĩa từ vựng; thí dụ hai mô hình sau ở động từ быть ‘là’:

- Он был в меховой шапке (Ông ta là trong mũ lông = Ông ta đội mũ lông)

- На нем была меховая шапка (Trên ông ta là mũ lông = Ông ta đội mũ lông)

7. Thông tin về khả năng tổ hợp (сочетаемость) của từ vị về 8 thuộc tính, đáng chú ý là ở đây đủ cả 8 “vùng” thông tin:

7.1. Khả năng tổ hợp do từ pháp: thí dụ, đại từ lịch sự вы сó thể kết hợp với tính từ số nhiều ở dạng ngắn đuôi và tính từ số ít ở dạng dài đuôi như:

- Вы недостаточно самостоятельны (Chị không đủ tự lập)

- Вы недостаточно самостоятельная (Chị không đủ tự lập)

Nhưng không thể nói ngược lại:

- * Вы недостаточно самостоятельна (Chị không đủ tự lập)

- * Вы недостаточно самостоятельные (Chị không đủ tự lập)

7.2. Khả năng tổ hợp do tu từ.

7.3. Khả năng tổ hợp do ngữ nghĩa; thí dụ động từ выйти ‘ra’ trong cái nghĩa ‘tiêu, dùng’ có thể kết hợp với hình thức cách-giới từ (mô hình chi phối: за + Nвин ) trong đó N là một danh từ chỉ khoàng thời gian:

- За день выходит около 70 рублей (Trong một ngày tiêu tốn hết gần 70 rúp)

7.4. Khả năng tổ hợp từ vựng; thí dụ động từ выйти ‘ra’ trong nghĩa ‘thôi không còn ở một trạng thái nào đó’ (mô hình chi phối: за + Nвин ) chỉ kết hợp hạn chế với một số danh từ nhất định như:

- Ваша статья вышла за рамки/пределы/границы установленного объема (Bài báo của anh đã vượt quá khuôn khổ/ranh giới/giới hạn của định mức).

7.5. Khả năng tổ hợp ngữ dụng.

7.6. Khả năng tổ hợp ngôn điệu; thí dụ động từ быть ‘là’ khi ở thì quá khứ và kết hợp với từ phủ định не ‘không’ thì trọng âm sẽ bị chuyển sang chỗ từ phủ định: не был, не было, не были.

7.7. Khả năng tổ hợp thông báo; thí dụ động từ быть khi mang nghĩa ‘tồn tại’ thường giữ vai trò “Đề” và đứng trước chủ ngữ:

- Есть люди, которые не любят музыку (Có những người không thích âm nhạc).

7.8. Khả năng tổ hợp cú pháp; thí dụ bắt buộc phải có thành tố phụ sau cho định tố là danh từ chỉ tham số: опухоль величиной с яйцо (Chỗ sưng cỡ bằng quả trứng).

8. Thông tin thành ngữ (фразеологичеслая); thí dụ một số thành ngữ sau của động từ выйти ‘ra’ (xem phần sau: Chân dung từ vị выйти).

Để minh hoạ cho những ý tưởng và quan niệm lí thuyết của mình, Aпресян đã đưa ra làm thí dụ hai động từ быть ‘là’, выйти ‘đi ra’ và miêu tả rất đầy đủ và chi tiết “chân dung” của nó, mỗi động từ tới 5 trang (về vấn đề này bạn đọc có thể tìm thấy ở bài viết của tôi về Chân dung từ điển học выйти ‘đi ra’, s. 5(7)-2010).

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH

[1] Vũ Quang Hào 2005, Kiểm kê từ điển học Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội.

[2] Hoàng Phê & Nguyễn Ngọc Trâm 1993, Một số vấn đề về từ điển học, “Ngôn ngữ”, s. 4.

[3] Đào Thản 1997, Hệ thống các kiểu chú trong từ điển tiếng Việt // Một số vấn đề từ điển học, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.

[4] Lý Toàn Thắng 2009-2010, Từ điển học hệ thống: Một thành tựu của ngôn ngữ học Nga và Xô viết, “Từ điển học & Bách khoa thư”; các số: 1+2-2009; 1+2+3+5-2010; 1+2-2011.

[5] Chu Bích Thu 1997, Một số nét khái quát về cấu trúc vi mô của từ điển giải thích // Một số vấn đề từ điển học, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.

[6] Chu Bích Thu 2005, Từ điển và từ điển học Việt Nam // Lược sử Việt ngữ học”, tập I (Nguyễn Thiện Giáp chủ biên), NXB Giáo dục, Hà Nội.

[7] Wierzbiska A. 1985, Lexicography and Conceptual Analysis, Ann Arbor.

[8] Aпресян Ю. Д. 1992, Лeксикографический портрет глагола выйти // Вопросы кибернетики, Язык логики и логика языка, Moсква.

[9] Aпресян Ю. Д. 1992, Лeксикографические портреты (на примере глагола быть) // Нaучно-техническая информация, Серия 2, No 3.

[10] Aпресян Ю. Д. 1995, Избранные труды, t. 2. Интегральное описание языка и системная лексикография, Moсква.

[11] Aпресян Ю. Д. 2006 (отвест. ред.).,Яыковая картина мира и лексикография, Moсква.

[12] Aпресян Ю. Д. 2009, Исследования по семантике и лексикографию, том 1 (Парадигматика), Изд. Языки славянских культур, Москва.

SUMMARY

This is the third unit on the theme of Lexicology on the Way of Learning and Research (starting from Issue No.1-2011). This time, under the title “Some Issues of Microstructure of Dictionaries”, the author touches upon the idea of microstructure (specific entry contents) of dictionaries by Vietnamese lexicologists recently. This point of view is based on the reference and rather obviously influenced by the points of view by Russian lexicologists, particularly by the Moscow school of semantics.

 


Tạp chí Từ điển học và Bách khoa thư, số 03, năm 2011