Những yêu cầu đối với mục từ Bách khoa thư Công an nhân dân Việt Nam

03/07/2013

Ths. ĐỖ VĂN HOAN

 

Biên soạn bách khoa thư, bách khoa toàn thư là một lĩnh vực còn khá mới mẻ ở nước ta. Tuy nhiên, trước yêu cầu hoàn thiện hệ thống tri thức và phục vụ nhu cầu học tập, nâng cao trình độ cho cán bộ, chiến sĩ, ngành Công an có chủ trương sẽ sớm tổ chức biên soạn một bộ bách khoa thư chuyên ngành. Ngày 14-8-2006, Bộ trưởng Bộ Công an đã ban hành Chỉ thị 06/2006/CT-BCA về việc biên soạn Bách khoa thư Công an nhân dân Việt Nam, theo đó Viện Chiến lược và Khoa học Công an là đơn vị được giao nhiệm vụ chủ trì và phối hợp với các đơn vị trong toàn ngành để tổ chức biên soạn công trình khoa học này. Đây là một nhiệm vụ quan trọng nhưng có nhiều khó khăn, phức tạp, do đó lãnh đạo Bộ Công an đã chỉ đạo cần phải xây dựng cơ sở lí luận và cơ sở pháp lí vững chắc trước khi bắt tay vào tổ chức thực hiện. Năm 2007, Viện Chiến lược và Khoa học Công an đã tiến hành nghiên cứu đề tài khoa học “Phương pháp luận biên soạn và thiết kế tổng thể Bách khoa thư Công an Nhân dân Việt Nam”. Trong quá trình nghiên cứu đề tài, Viện đã mời nhiều nhà khoa học trong và ngoài ngành tham gia, đồng thời tiến hành sưu tầm nhiều bộ bách khoa thư của Việt Nam và thế giới để tham khảo. Năm 2008, đề tài đã hoàn thành. Trên cơ sở đó, Viện Chiến lược và Khoa học Công an đã tham mưu cho Bộ trưởng Bộ Công an ban hành Thông tư hướng dẫn trình tự và kĩ thuật biên soạn Bách khoa thư Công an Nhân dân.

Theo tinh thần đó, Bách khoa thư Công an Nhân dân là bộ sách trình bày toàn bộ những tri thức cơ bản về công tác công an và những tri thức có liên quan mật thiết đến công tác công an, được đúc kết trong quá trình chiến đấu, xây dựng và trưởng thành của ngành, trên cơ sở những tài liệu đã được hệ thống, tổng kết, đánh giá và kiểm nghiệm trong thực tiễn. Bách khoa thư Công an Nhân dân có chức năng đáp ứng nhu cầu tự học tập, nâng cao trình độ và tra cứu của cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng công an. Do công tác công an có tính bảo mật cao nên nội dung của Bách khoa thư Công an Nhân dân cũng phải tuân thủ yêu cầu này. Theo dự kiến, bộ Bách khoa thư có dung lượng khoảng 8.000 trang (quãng 400.000 chữ), trong đó sẽ có 1.000 hình ảnh, được cấu trúc thành 8 tập và sẽ hoàn thành toàn bộ công trình vào năm 2015. Mỗi tập Bách khoa thư được cấu thành bởi các mục từ và các mục từ phải đáp ứng những yêu cầu khá chặt chẽ. Ngoài yêu cầu bảo mật, các mục từ Bách khoa thư Công an Nhân dân Việt Nam còn phải đáp ứng một số yêu cầu mang tính đặc thù của bách khoa thư.

Yêu cầu thứ nhất, mục từ phải có tính tinh gọn. Tính tinh gọn của mục từ được hiểu rằng mỗi mục từ chỉ trình bày những tri thức căn bản nhất, cốt yếu nhất về đối tượng được phản ánh trong mục từ, không phân tích, diễn giải quá sâu các chi tiết. Mỗi mục từ chịu trách nhiệm phản ánh 1 chủ đề tri thức. Yêu cầu này đã tạo nên sự khác biệt giữa bách khoa thư với các công trình khoa học khác, như đề tài khoa học, giáo trình, bài viết trên tạp chí hay sách chuyên khảo… So với các công trình này, bách khoa thư tinh gọn hơn nhiều. Do đó, khi sử dụng các tài liệu này vào việc biên soạn bách khoa thư thì phải có sự chọn lọc những nội dung cốt yếu theo một cấu trúc thích hợp chứ không phải chỉ đơn giản là chép các tài liệu này vào mục từ. Chẳng hạn, để tổng kết vụ án Trương Văn Cam (tức Năm Cam), Tổng cục Cảnh sát Bộ Công an đã có một đề tài khoa học cấp bộ dài gần 50.000 chữ (tương đương 100 trang A4), ngoài ra còn kèm theo hàng ngàn trang phụ lục. Tuy nhiên, mục từ Vụ án Trương Văn Cam và đồng phạm trong bộ Bách khoa thư Công an nhân dân được biên soạn dựa trên cơ sở các tài liệu trên nhưng chỉ phản ánh những những nội dung căn bản nhất về vụ án, do đó chỉ có độ dài tối đa khoảng 5.000 chữ (tương đương 10 trang A4), trên cơ sở cân đối với các mục từ khác. Muốn thế, trước khi viết mục từ, người biên soạn phải lập đề cương, trong đó xác định độ dài dự kiến của mục từ và đề cương này phải qua các bước trao đổi, thẩm định kĩ lưỡng...

Yêu cầu thứ hai, mục từ phải có tính toàn diện. Tính toàn diện của mục từ được hiểu là mỗi mục từ phải được trình bày đầy đủ các tri thức cơ bản nhất, cốt yếu nhất về đối tượng được phản ánh trong mục từ; đồng thời, bao gồm cả những tri thức hình thành trong lịch sử và những tri thức mới nhất. Tính toàn diện của mục từ giúp cho người đọc có những thông tin tuy ngắn gọn nhưng tương đối hoàn chỉnh về đối tượng được phản ánh trong mục từ. Nếu yêu cầu tinh gọn tạo nên sự khác biệt giữa bách khoa thư với các công trình khoa học khác thì yêu cầu toàn diện tạo nên sự khác biệt giữa bách khoa thư với chính "người anh em" của nó là từ điển bách khoa. So với mục từ của từ điển bách khoa, mục từ bách khoa thư toàn diện hơn rất nhiều. Chẳng hạn như đã nêu ở trên, mục từ Vụ án Trương Văn Cam và đồng phạm trong Bách khoa thư Công an Nhân dân dài khoảng 5.000 chữ thì mục từ Vụ án Trương Văn Cam và đồng phạm trong Từ điển Bách khoa Công an Nhân dân chỉ dài khoảng 500 chữ (tương đương 1 trang A4). Sở dĩ có sự khác nhau này là do có sự khác nhau về cấu trúc nội dung. Mục từ Vụ án Trương Văn Cam và đồng phạm trong Từ điển bách khoa chỉ giới thiệu một cách vắn tắt về vụ án như: tính chất của vụ án, tên của đối tượng cầm đầu, số lượng đối tượng tham gia, các tội danh chính của vụ án và kết quả xử lí cuối cùng. Trong khi đó, mục từ Vụ án Trương Văn Cam và đồng phạm trong Bách khoa thư được cấu trúc thành 4 bộ phận: 1. Mở đầu (giới thiệu khái quát về vụ án); 2. Quá trình hoạt động của tổ chức tội phạm Trương Văn Cam; 3. Các biện pháp đấu tranh của lực lượng Công an; 4. Các bài học kinh nghiệm rút ra sau vụ án (bài học về công tác phòng, chống các băng nhóm tội phạm hoạt động theo kiểu xã hội đen và bài học về công tác quản lí cán bộ). Như vậy, mục từ Vụ án Trương Văn Cam và đồng phạm trong Bách khoa thư vừa phải đảm bảo tính tinh gọn hơn rất nhiều so với đề tài khoa học, vừa phải đảm bảo tính toàn diện hơn nhiều so với mục từ trong Từ điển bách khoa viết về vụ án này.

Đối với các khái niệm trừu tượng, trong thực tiễn công tác, mỗi khái niệm có thể được hiểu theo những nghĩa rộng, hẹp khác nhau tuỳ theo ngữ cảnh. Tuy nhiên, các khái niệm trình bày trong mục từ cần được hiểu theo nghĩa đầy đủ, toàn diện. Chẳng hạn, trong nhiều tài liệu của ngành Công an, khái niệm công tác tham mưu được hiểu rằng đây là công tác của các đơn vị tham mưu tổng hợp chuyên trách. Tuy nhiên, mục từ Công tác tham mưu trong Bách khoa thư Công an Nhân dân trình bày khái niệm này theo nghĩa rộng, theo đó, tham mưu là một trong ba chức năng cơ bản của ngành Công an, tất cả các đơn vị, cán bộ, chiến sĩ phải tiến hành trong phạm vi nhiệm vụ chuyên môn của mình. Ngành Công an tham mưu cho Đảng và Nhà nước; đơn vị công an cấp dưới tham mưu cho đơn vị công an cấp trên; cán bộ, chiến sĩ tham mưu cho thủ trưởng đơn vị...

Cũng giống như khái niệm tinh gọn, khái niệm toàn diện cũng là một khái niệm mang tính tương đối và phụ thuộc vào quan điểm biên soạn của ban biên tập. Để khắc phục điều này, trong đề cương mục từ ngoài việc phải xác định độ dài dự kiến còn phải xác định các bộ phận cấu thành của mục từ. Đó chính là quan điểm về việc xây dựng cấu trúc vĩ mô (macro-structure) và cấu trúc vi mô (micro-structure) của bất kì một cuốn từ điển nào.

Yêu cầu thứ ba, mục từ phải có tính thiết thực. Tính thiết thực của mục từ được hiểu là những tri thức trong mục từ luôn hướng tới mục tiêu nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực công tác chuyên môn và phẩm chất, lối sống cho cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân, đáp ứng yêu cầu cuộc sống đặt ra. Những tri thức ít liên quan đến công tác công an hoặc những tri thức quá cũ, ít phát huy tác dụng trong công tác công an trong tình hình hiện nay thì không nên trình bày trong mục từ. Sở dĩ có yêu cầu này là xuất phát từ chức năng, mục đích biên soạn bộ Bách khoa thư. Mặt khác, trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, các nguồn tư liệu tăng nhanh, trong khi thời gian để tìm hiểu, nghiên cứu tư liệu luôn có hạn, do đó, việc lựa chọ tri thức là rất quan trọng. Tuy nhiên, do đặc thù của công tác công an là có liên quan đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, nên nhìn trên bình diện chung thì ngành Công an cần được trang bị kiến thức về tất cả mọi lĩnh vực đó. Mặt khác, có những tri thức được cán bộ công an ứng dụng một cách trực tiếp, nhưng có những tri thức lại được ứng dụng một cách gián tiếp. Vì vậy, việc xác định những tri thức nào thiết thực cho công tác công an không phải là điều đơn giản. Để xác định tính thiết thực, cán bộ biên soạn luôn bám sát ba tiêu chí, đó là:

a. tiêu chí thời gian, ưu tiên lựa chọn những tri thức có giá trị bảo lưu, có tính ứng dụng cho công tác trong hiện tại, những tri thức đã hình thành trong quá khứ và chỉ còn giá trị lịch sử thì chỉ giới thiệu một cách khái quát;

b. tiêu chí không gian, ưu tiên lựa chọn những tri thức phục vụ giải quyết những vấn đề về an ninh, trật tự của đất nước ta, những tri thức phục vụ cho các vấn đề của các nước trên thế giới chỉ được đề cập đến nếu có liên quan đến Việt Nam;

c. tiêu chí ứng dụng, đó là chỉ lựa chọn những tri thức nếu trả lời được câu hỏi “tri thức này được ứng dụng cho những lực lượng nào trong ngành Công an?”. Ba tiêu chí này cần được người biên soạn áp dụng cả khi lập đề cương và trong quá trình biên soạn mục từ.

Yêu cầu thứ tư, mục từ phải có tính chuẩn xác. Đây là yêu cầu chung đối với tất cả các công trình khoa học, tuy nhiên, đối với bách khoa thư, yêu cầu này đặt ra cao hơn nhiều. Sở dĩ có điều này là bởi xuất phát từ tính chất, chức năng của bộ bách khoa thư. Vấn đề đặt ra là, làm thế nào để đảm bảo tính chính xác cho mục từ bách khoa thư. Chúng ta đã biết rằng, việc biên soạn bách khoa thư không phải là sáng tạo ra tri thức mới mà là trình bày những tri thức hiện có theo một cách thức nhất định. Các tri thức đó được thể hiện trong các tài liệu chính thống, tin cậy, được kiểm chứng qua không gian, thời gian. Như vậy, để mục từ bách khoa thư đảm bảo được tính chính xác thì mục từ đó phải được biên soạn dựa trên cơ sở các tài liệu chính thống, có độ tin cậy cao. Tài liệu chính thống là các công trình khoa học đã được cấp có thẩm quyền nghiệm thu (như đề tài, giáo trình, luận văn, luận án đã được Hội đồng nghiệm thu đánh giá từ đạt yêu cầu trở lên và đã được chỉnh lí theo yêu cầu của Hội đồng). Tài liệu chính thống còn bao gồm các văn kiện của Đảng, văn bản pháp quy của Nhà nước, các số liệu thống kê của các cơ quan chức năng, v.v. Các tài liệu tin cậy là các tài liệu có thể chưa phải là chính thống nhưng có nguồn gốc rõ ràng, có nội dung phù hợp. Các tài liệu đó có thể là các bài viết trên tạp chí, các sách chuyên khảo, kỉ yếu hội thảo,… Các tài liệu thu thập trên mạng hay các tài liệu của nước ngoài cũng phải đảm bảo nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, do các cá nhân hay các cơ quan, tổ chức có uy tín phát hành...

Để đảm bảo yêu cầu chuẩn xác, trong đề cương mục từ phải xác định các tài liệu dự kiến sẽ sử dụng làm cơ sở biên soạn mục từ. Sau khi mục từ biên soạn xong, trên phiếu biên soạn mục từ cũng phải được liệt kê các tài liệu thực tế đã sử dụng và cán bộ biên soạn phải đính kèm bản sao một số tài liệu chủ yếu để làm cơ sở cho việc biên tập, xét duyệt mục từ.

Yêu cầu thứ năm, mục từ phải đảm bảo tính thống nhất trong kĩ thuật trình bày. Hình thức cấu trúc của các bộ bách khoa thư khá phong phú, đa dạng. Tuy nhiên, mỗi bộ bách khoa thư dù trình bày theo hình thức nào cũng phải đảm bảo tính thống nhất về kĩ thuật - mĩ thuật trình bày trong toàn bộ công trình. Kĩ thuật trình bày của mục từ bao gồm cấu trúc mục từ, chính tả và văn phong. Thông tư của Bộ Công an hướng dẫn rất chi tiết về kĩ thuật trình bày của mục từ Bách khoa thư, bao gồm cách sắp xếp, cách kí hiệu các bộ phận cấu thành mục từ; kiểu chữ, cỡ chữ và các quy định về chính tả. Về văn phong, mục từ Bách khoa thư Công an nhân dân sử dụng văn phong khoa học, đáp ứng các yêu cầu: ngữ pháp chuẩn mực (theo đúng ngữ pháp tiếng Việt); cấu trúc câu đơn giản, ngắn gọn, súc tích, có tính khái quát cao; từ ngữ chuẩn xác, khách quan, không dùng từ ngữ có sắc thái biểu cảm, không thể hiện quan điểm cá nhân. Tuy nhiên, yêu cầu về văn phong chỉ có thể đưa ra những các quy định chung, còn việc hành văn thế nào cho lôi cuốn, từ ngữ thế nào cho sinh động, lập luận thế nào cho sắc bén, thì phụ thuộc rất lớn vào khả năng và kinh nghiệm viết của mỗi người.

Trong các yêu cầu trên đây, bốn yêu cầu đầu tiên tạo nên linh hồn của mục từ; yêu cầu thứ năm giúp cho độc giả thuận tiện hơn trong việc nghiên cứu mục từ. Để đáp ứng được các yêu cầu này, đòi hỏi mỗi cán bộ biên soạn phải là những chuyên gia am hiểu sâu về đối tượng phản ánh trong mục từ, có kinh nghiệm viết các công trình khoa học, có nguồn tư liệu phong phú và trong quá trình biên soạn cần bám sát vào các hướng dẫn về mặt kĩ thuật.

Việc ra đời của bộ Bách khoa thư Công an Nhân dân Việt Nam không chỉ phục vụ cho yêu cầu hoàn thiện hệ thống tri thức của ngành Công an và đáp ứng nhu cầu học tập, tra cứu cho cán bộ, chiến sĩ, mà còn góp phần nhất định vào việc bước đầu hình thành nền bách khoa thư học của đất nước ta. Trước đây, nhiều mục từ trong cuốn Từ điển Bách khoa Công an Nhân dân đã được sử dụng vào bộ Từ điển Bách khoa Việt Nam. Đối với bộ Bách khoa thư Công an Nhân dân hiện nay, chúng ta hoàn toàn có thể tin rằng, ngoại trừ những nội dung có yêu cầu bảo mật, những tri thức về sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự, an toàn xã hội của nhân dân ta trong công trình này sẽ tham gia vào việc hình thành bộ Bách khoa toàn thư Việt Nam trong tương lai.

THƯ MỤC THAM KHẢO

[1] Nguyễn Xuân Thuỷ, Phương pháp luận biên soạn và thiết kế tổng thể Bách khoa thư CAND Việt Nam, Đề tài khoa học cấp bộ, 2007.

[2] Hà Học Trạc, Lịch sử - lí luận và thực tiễn biên soạn Bách khoa toàn thư, NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2004.

[3] Từ điển Bách khoa Việt Nam, t. 1-4, Trung tâm biên soạn TĐBK VN, NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 1995-2005.

[3] Thông tư 20 ngày 30-8-2008 của Bộ trưởng Bộ Công an hướng dẫn trình tự và kĩ thuật biên soạn Bách khoa thư CAND Việt Nam.

SUMMARY

People’s Public Security Encyclopedia is a comprehensive intellectual work composed under a plan of Ministry of Public Security (of the Socialist Republic of Vietnam). Analysis was conducted to focus on the five essential requirements (concise, comprehensive, practical, accurate, and consistency) of encyclopedia in general in order to enable composers of dictionaries of this category to achieve consistent methodology. This work also assists in composing later encyclopedias of Vietnam.


Tạp chí Từ điển học và Bách khoa thư, số 03, năm 2011