Tính hệ thống trong cấu trúc vĩ mô của Bách khoa thư

03/07/2013

PGS.TS PHẠM VĂN HẢO

 

1 Mở đầu

Bách khoa thư (BKT) hay Bách khoa toàn thư (BKTT) (Encyclopedia, Энцикло- педия) là loại sách tra cứu tổng hợp, cỡ lớn, mang tính hàn lâm, nhằm giới thiệu một cách toàn diện, có hệ thống, chuẩn xác những tri thức cơ bản về các lĩnh vực khoa học và đời sống xã hội của nhân loại từ xưa đến nay, cho những người tự học tiếp nhận tri thức. Với BKT hay BKTT Việt Nam, sẽ nhằm phục vụ các độc giả Việt Nam, có trình độ văn hoá nhất định (trình độ trung bình trở lên). BKT, do vậy, là công trình tiêu biểu của khoa học công nghệ, đại diện cho trí tuệ Việt Nam. Ngoài bộ Từ điển Bách khoa thư Việt Nam (4 tập, 1995-2005) cần chỉnh sửa và những bộ từ điển bách khoa hoặc bách khoa thư chuyên ngành khác, chúng ta rất cần bộ Bách khoa toàn thư dạng tổng hợp đảm nhận trọng trách như nêu trên.

Nói đến “cấu trúc vĩ mô” (macrostruc- ture, макроструктура) là nói đến cấu trúc bảng / khung mục từ. Lập bảng khung mục từ là một khâu quan trọng nhất của công việc biên soạn, “hoàn thành tốt công việc này chính là đã hoàn thành 50% công trình” [4, 120]. Mặc dù là vấn đề mới, nhưng cũng đã có nhiều tài liệu đề cập đến công việc này (xin xem: [4], [11], [12]).

Bài viết này nhằm phục vụ cho việc tổ chức biên soạn quyển Bách khoa toàn thư trong tương lai. Đây là vấn đề không mới, nhưng chắc chắn là không hề đơn giản.

2. Cấu trúc vĩ mô và tính hệ thống trong cấu trúc vĩ mô của BKT

2.1. Cấu trúc vĩ mô

Khái niệm “cấu trúc vĩ mô” được nêu ra từ lâu và được dùng khá phổ biến trong nghiên cứu về từ điển học. Trong cụm từ này có từ “cấu trúc”, cho thấy, bảng từ, dù đơn giản hay phức tạp, nhiều hay ít, đều được hình dung như một hệ thống có cấu trúc tầng bậc, được xây dựng công phu, thể hiện rõ các quan niệm như một chiến lược biên soạn cụ thể của đội ngũ tác giả. Theo Nguyễn Trọng Báu, “Lựa chọn một bảng mục từ như thế nào cho bách khoa thư là cơ sở biểu hiện thế giới quan giai cấp của ban biên tập. Đồng thời qua bảng mục từ có thể hình dung ra khối lượng từ điển, kết cấu và các chủ để cho bách khoa toàn thư đề cập tới”[1]. Cách diễn đạt như trên hơi “đao to búa lớn” (“thế giới quan giai cấp”) và có vẻ hơi cũ, nhưng rất đúng.

Như vậy, khái niệm “cấu trúc vĩ mô” có thể hiểu là hệ thống bảng từ đầu mục. Từ “hệ thống” bản thân nó cũng gợi ra tính cấu trúc, với những tôn ti, cấp bậc, cũng thể hiện các yếu tố và các mối quan hệ giữa chúng một cách trọn vẹn. Nếu không có tính hệ thống, bảng từ của chúng ta sẽ chỉ là các đơn vị rời rạc, chẳng những chúng không có sự gắn kết, thiếu chọn lọc, có nguy cơ không kiểm soát nổi, tuỳ tiện, cảm tính dẫn đến tình trạng không cân đối, thậm chí thiếu, thừa. Trong tác phẩm của mình, Hà Học Trạc than phiền rằng khi làm Từ điển Bách khoa Việt Nam, 4 tập, và cả khi chuẩn bị cho việc biên soạn Bách khoa toàn thư Việt Nam, 24 tập, trước đây, ở nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, các tác giả đòi làm thẳng bảng từ mà không qua bước làm bảng cấu trúc phân loại mục từ [4].

2.2. Tính hệ thống trong cấu trúc vĩ mô

2.2.1. Sự thể hiện của các hệ thống

Trên thực tế, có hai loại hệ thống tồn tại song song, xoắn bện vào nhau làm nên bảng phân loại mục từ, chúng tôi tạm gọi đó là hệ thống dọchệ thống ngang. Hệ thống dọc là cấu trúc tôn ti trong một chủ đề (một ngành khoa học). Hệ thống ngang là mối quan hệ cân đối giữa các chủ đề (các ngành khoa học) với nhau. Đấy là ở bậc cao nhất. Ở các bậc trung gian, các mối quan hệ hệ thống này vẫn tồn tại trong sự tương liên và có sự chế định lẫn nhau. Bậc cuối cùng là các thuật ngữ, khái niệm, danh xưng như các đơn nguyên nhỏ nhất.

a) Hệ thống dọc

Hệ thống này được Hà Học Trạc hình dung: chủ đề bao gồm các lĩnh vực khoa học, các ngành, phân ngành, các bộ môn khoa học, các khái niệm, các thuật ngữ, các chủ đề tri thức, các sự kiện, các tổ chức, các địa danh, nhân vật… [4, 120]. Ta có thể hình dung quan niệm này theo sơ đồ sau:

 

Tạ Văn Thông lại có cách diễn đạt khác. Theo ông, dưới chủ đề là “tiểu chủ đề”, cuối cùng là mục từ [6, 55]. Nguyễn Trung Thuần thì gọi là “thuật ngữ - khái niệm nhánh”, và sau khái niệm nhánh sẽ là các đơn vị “khái niệm phái sinh bậc 1, 2, 3” [7, 64]. Như vậy, dù các tác giả có thể dùng khái niệm để thể hiện và miêu tả “trục dọc” này khác nhau, nhưng tất cả đều công nhận rằng các đơn vị của BKT phải nằm trong các ô xác định, ở những cấp bậc nhất định, nghĩa là chúng được sắp xếp vào các hệ thống có tôn ti xác định.

Để hình dung, chúng ta có thể lấy một nhánh trong ngành ngôn ngữ học làm ví dụ (ngữ âm):

 

Các đơn vị “cùng cấp” phải được đặt vào đúng các cấp độ. Ví dụ, các khái niệm “âm vị siêu đoạn”, “nguyên âm” phải xếp vào bậc “âm vị”, “nét rườm” phải xếp cùng bậc với “nét khu biệt”, v.v.

Trong tác phẩm của mình, Hà Học Trạc thử đưa mục lục phân loại mục từ quyển Điện - Điện tử - Tự động hoá, 1 trong 24 quyển của bộ “Bách khoa toàn thư Việt Nam” trong tương lai, ông đưa chưa đầy đủ 6 nhóm (xếp A, B, C, D, Đ, E) các danh xưng (tên người, tổ chức, ấn phẩm, lịch sử ngành) khái niệm, thuật ngữ (riêng thuật ngữ là 852 mục từ) [4, 343-378].

b) Hệ thống ngang

Hệ thống ngang cũng tồn tại ở mọi cấp độ phân chia chủ đề. Nếu đó là các ngành (hoặc quyển) thì đó là sự cân đối giữa các ngành với nhau, cả về số lượng mục từ, cả về số trang, cả về dung lượng mục từ. Đương nhiên tương ứng giữa ngành và quyển chỉ là tương đối, vì có thể có ngành phải chia làm nhiều quyển (như Địa lí), lại có ngành phải ghép gán vào một ngành khác có sự gần gũi (Ví dụ: Xã hội học, Tôn giáo gắn với Triết học; Ngôn ngữ học gắn với Văn học…) [4, 309]. Ở những cấp độ trung gian, tương quan này thể hiện càng rõ trong sự cân đối nội bộ giữa các lĩnh vực, các bộ môn, các phân ngành. Sang cấp độ nhỏ nhất là mục từ, tức các đơn vị cơ sở, việc lựa chọn các đơn vị còn khó khăn và tính hệ thống càng chi phối gắt gao hơn. Hầu như việc đưa từ này, khái niệm này mà bỏ quên hoặc cố tình bỏ qua từ kia, nếu không được biện minh chính đáng, sẽ dễ bị đánh giá là thiếu nhất quán.

Để chứng minh ý trên, chúng tôi xin nêu hai ví dụ.

Ví dụ 1 (trích trong Từ điển Bách khoa Việt Nam, 4 tập) do tác giả [7] cung cấp:

Ví dụ 1.       ghi chú:  +   có đưa vào Từ điển Bách khoa Việt Nam

                                                            –   không đưa vào

Ví dụ 2 (trích từ Từ điển Bách khoa Việt Nam, 4 tập). Như đã biết, Vương triều Nguyễn ở Việt Nam gồm 9 chúa 13 vua, nối tiếp nhau gần 400 năm. Do các vua triều này có niên hiệu và khá quen thuộc với người Việt, nên trong từ điển đưa mục từ theo niên hiệu là chủ yếu, chứ không đưa họ tên như các Chúa. Trong quyển từ điển này, chỉ riêng các vị vua, ta chỉ thấy có 9 tên, còn bốn người khác thì không có (sơ đồ cụ thể ở trang sau):

Ví dụ 2.      ghi chú:   +   có đưa vào Từ điển Bách khoa Việt Nam

                                                            –   không đưa vào

Việc không đưa tên Thiệu Trị, Dục Đức, Hiệp Hoà, Kiến Phúc có thể là do quan điểm của các nhà biên soạn, nhưng sẽ khó khăn cho việc người đọc muốn tìm hiểu về lịch sử Việt Nam cận đại, đặc biệt là số đông các bạn học sinh, sinh viên.

Hai hệ thống dọc và ngang có quan hệ tương liên chặt chẽ đến mức chúng chế định, ảnh hưởng lẫn nhau. Nếu chúng ta làm không làm tốt cấu trúc hệ thống ngành (hệ thống dọc) thì cũng không thể làm tốt hệ thống các quan hệ đồng cấp (hệ thống ngang) và ngược lại. Ở các nước phát triển, khi đã có hàng trăm năm làm bách khoa thư, những kinh nghiệm thành lập hệ thống phân ngành rồi làm nên bảng phân loại mục từ có lẽ không khó khăn lắm. Tuy vậy, không phải tất cả các sản phẩm của họ đều không tìm thấy những điểm chưa hài lòng [xem 4]. Còn ở nước ta, những khiếm khuyết có tính mất hệ thống không khó tìm thấy hầu như ở tất cả các loại từ điển. Đây là điểm rất đang chú ý khi chúng ta xây dựng quy chế thành lập bảng mục từ cho quyển BKT Việt Nam trong tương lai.

Việc liên kết giữa các hệ thống là công việc của một số phương tiện chỉ dẫn, trong đó có đóng góp của sự chuyển chú và bảng chỉ dẫn. Ở các loại từ điển hiện nay, các bảng chỉ dẫn rất được chú ý. Còn đối với BKT thì bảng này hầu như không thể thiếu, có thể in thành một quyển sách riêng, gọi là index (sách dẫn). Còn thông tin chuyển chú là thông tin chuyển hệ của các hệ thống con. Nếu như coi BKT là một khối kiến thức khổng lồ, nó bao gồm rất nhiều hệ thống, tôn ti khác nhau, ta gọi là các hệ thống nhánh, tiểu hệ thống, hệ thống con, thì vai trò của chúng sẽ rất quan trọng trong viên hiệu chỉnh, liên kết, đan cài, dẫn dắt người đọc đến với thông tin cần tìm nhanh nhất,

2.2.2. Các yếu tố chi phối hệ thống

Có nhiều yếu tố chi phối tính hệ thống trong việc xây dựng BKT. Ở đây có yếu tố do đề tài quy định, có yếu tố do cách tiếp cận, có yếu tố đối tượng phục vụ của BKT chi phối. Chúng ta thử xem xét từng loại yếu tố nói trên.

a) Đề tài (hay đầu đề sách) chỉ rõ các loại BKT khác nhau: loại tổng hợp ta có Bách khoa toàn thư, loại chuyên ngành ta có Bách khoa thư chuyên ngành, loại viết về địa phương ta có Bách khoa thư địa phương. Mỗi loại sách như vậy ta có các bảng phân loại mục từ khác nhau. Điều này là dễ hiểu, dường như ai cũng biết. Chính đầu đề của BKT chỉ rõ mục đích biên soạn cho bản thân chúng. Cùng một mục, ví dụ như lịch sử hoặc địa lí của một BKT địa phương sẽ có số lượng danh xưng, các khái niệm, thuật ngữ sẽ rất khác với BKT tổng hợp quốc gia, hoặc rất khác với các địa phương khác. Cho nên, trong các sách về địa phương sẽ ít đi các đơn vị khái niệm, thuật ngữ chung, sẽ không có các địa danh, danh nhân các địa phương khác, mà tập trung phản ánh các đặc điểm vốn có của địa phương mình.

Khi tổng hợp phân bảng mục từ, có thể BKT chuyên ngành sẽ dung nạp các khái niệm, thuật ngữ theo cách của mình. Khi đó số lượng các đơn vị liên ngành có điều kiện được thu thập dễ hơn, nhiều hơn, ít nhất là so với khi số lượng mục từ này được xem xét để đưa vào BKT tổng hợp. Do đó mà bảng mục từ, hay nói như chúng ta đang xem xét, hệ thống của chúng sẽ có sự khác nhau.

b) Cách tiếp cận

Cách tiếp cận hệ thống để thiết kế một bảng kết cấu mục từ cũng có thể có nhiều cách, đặc biệt là với loại BKT chuyên ngành. Để ví dụ, chúng tôi xin trích cách đề xuất hướng tiếp cận bảng từ cho sách dạng bách khoa (từ điển hoặc BKT) cho học sinh phổ thông về lĩnh vực văn học của Nguyễn Như Trang. Tác giả viết: “Thứ nhất, có thể biên soạn mục từ chia theo lớp học từ lớp 6 đến lớp 12; thứ hai, biên soạn mục từ theo thứ tự chữ cái alphabet; thứ ba, biên soạn mục từ theo thể loại văn học (truyện ngẫu, tiểu thuyết, thơ ca, bút kí, tuỳ bút, ca dao, dân ca, thần thoại, cổ tích, tiểu thuyết,…); thứ tư, biên soạn mục từ theo giai đoạn văn học (theo sự phân chia trong sách giáo khoa văn học dành cho học sinh phổ thông, chia văn học Việt Nam thành 3 thời kì lớn: Thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX đến Cách mạng Tháng Tám 1945, từ sau Cách mạng Tháng Tám đến hết thế kỉ XX); thứ năm, biên soạn từ điển theo hướng phân vùng địa lí văn học (văn học nước ngoài, văn học Việt Nam, văn học phương Đông, văn học phương Tây…)” [5, 95].

Năm cách tiếp cận trên cho 5 bảng phân loại mục từ khác nhau, mà cách tiếp cận nào cũng có lí riêng. Đương nhiên là trong số các mục từ đó đa phần là giống nhau, nghĩa là chúng chỉ là một đơn vị. Nhưng xét từ góc độ cấu trúc hệ thống vĩ mô thì đó là những danh mục mang tính độc lập cao, nói đơn giản là khác nhau. Vả lại, do cách sắp xếp khác nhau nên chưa chắc số lượng mục từ, và cả bản thân các đơn vị ấy chưa hẳn đã đồng nhất. Cho nên, vấn đề là ta chọn được một cách tiếp cận có lợi nhất.

c) Quy mô của BKT

Quy mô lớn nhỏ của BKT đương nhiên là chi phối lớn đến bảng phân loại mục từ: BKT cỡ nhỏ thì số mục từ ít, đi vào những đơn vị cơ bản, còn BKT cỡ vừa hoặc lớn thì sẽ mở rộng diện thu nạp khái niệm, thuật ngữ, danh xưng. Sự mở rộng này theo nguyên tắc làn sóng nước: có tâm và có biên, trong đó biên là đối tượng của sự mở rộng. Việc mở rộng đến đâu là do quy mô (hay độ lớn) của sách, và điều này đòi hỏi các tác giả phải có sự cân đối trong việc mở rộng vùng “biên”.

d) Do người biên soạn (các soạn giả) quyết định

Trên thực tế, tất cả các công đoạn làm việc, các vấn đề của công việc biên soạn các sách, chứ không chỉ có BKT, đều do các tác giả quyết định. Tuy nhiên, ngay cả khi cùng xác định một định hướng, nhưng các tác giả khác nhau cũng có ý kiến khác nhau. Điều này thường gặp ở các từ điển có cùng tên. Hiện nay có rất nhiều quyển từ điển tiếng Việt, từ điển phương ngữ tiếng Việt,… đều có cùng tên gọi, cùng làm việc trên một đối tượng, nhưng đó là những quyển sách khác nhau rất nhiều, cả về bảng từ, lời giải nghĩa cho đến chất lượng chung của quyển sách. Vì sao vậy? Vì họ có cách giải quyết vấn đề khác nhau, cách tiếp cận tư liệu mà họ có… rất khác nhau.

Chẳng hạn, ta có hai quyển Từ điển từ cổ tiếng Việt (của Vương Lộc và của Nguyễn Ngọc San) thì đó là hai công trình rất ít giống nhau về bảng từ. Cũng vậy, chúng ta có 2 quyển Từ điển phương ngữ Nghệ Tĩnh (Nguyễn Nhã Bản chủ biên và sách của Thái Kim Đỉnh và Trần Hữu Thung) thì cũng có sự khác nhau là chủ yếu giữa hai bảng từ.

Những ví dụ của chúng tôi đều là ở loại từ điển, bởi ở ta BKT còn ít, hiếm, nên khó so sánh. Tuy vậy có lẽ BKT cũng có thể có tình trạng tương tự.

e) Do đối tượng phục vụ

Trên thực tế, đối tượng nào thì phải có sách phù hợp với đối tượng đó, cho nên đối tượng độc giả luôn là yếu tố quan trọng hàng đầu đối với BKT. Sách BKT cho trẻ em thì bảng từ đầu mục, cách trình bày các kiến thức, dung lượng mục từ không thể lớn và đi sâu như sách cho người lớn. Điều này cũng giống như sách báo chuyên môn thì chủ yếu danh cho các nhà khoa học, người bình thường sẽ khó tiếp cận. Trên thế giới xu hướng này ngày càng thấy rõ, khi bản thân sách báo là một dạng hàng hoá đặc biệt, thì việc đưa sách đến với người đọc theo từng nhóm xã hội, lớp tuổi, trình độ… càng phong phú, sinh động. Có lẽ vì thế mà theo cố PGS Nguyễn Kim Thản, từ điển mùi (rượu vang) cho những người buôn bán loại này ở phương Tây ra đời cũng là từ xu hướng này [3, 66]. Gần đây còn có loại “BKT mở” cho mọi người ai muốn tham gia có ý kiến, tham gia sửa chữa đều được.

f) Do mô hình, hình thức của BKT

Nếu như BKT có nhiều loại thì tương ứng với chúng là các cách lập hệ thống bảng từ đầu mục cũng khác nhau. Đó là các loại sách địa chí, niên giám, từ điển. Đó cũng chính là các BKT đặc trưng, xét theo phương thức truyền đạt: BKT sách in (truyền thống), BKT bằng hình ảnh và âm thanh (dạng phim), BKT in trên giấy to cho trẻ mẫu giáo, hay từ điển âm thanh (Dictionnaire somore) gồm 40 đĩa CD của NXB Larousse và Pathe Marconi (Dẫn theo [3]). Mỗi loại sách trên có cách lập bảng từ riêng. Do vậy, chúng ta nói đến sự chi phối của chúng đối với quá trình xây dựng các khung cho BKT: quá trình xây dựng bảng từ đầu mục.

2.3. Việc kiểm tra tính hệ thống của cấu trúc vĩ mô của BKT

Có thể nói, công việc kiểm tra tính hệ thống của cấu trúc vĩ mô luôn là nhiệm vụ của các tác giả. Song, kiểm tra hệ thống của bảng phân mục từ bằng gì? Và kiểm tra như thế nào để đạt hiệu quả cao nhất?

Trả lời câu hỏi này quả là không dễ dàng. Về phương pháp, chúng ta phải dựa vào các đặc tính thường trực của một BKT cần đạt tới để kiểm tra, coi như đó là các yêu cầu cơ bản nhất.

Trong một bài viết khác, chúng tôi có đề cập đến 6 đặc điểm hay tính chất cơ bản của Bách khoa thư là: 1) tính khoa học, 2) tính hệ thống, 3) tính tư tưởng, 4) tính hiện đại, 5) tính dân tộc, 6) tính dễ tra cứu. Việc dựa vào các yêu cầu này để xem xét kết cấu bảng từ là cần thiết, nhưng sẽ là khó đưa ra được nhiệm vụ kiểm tra cụ thể, chẳng khác gì ta lấy khẩu hiệu giăng đầy ngoài đường phố để kiểm tra hiện tình chính trị xã hội trong đời sống hiện thực! Bởi lẽ, tất cả các tính chất ấy đã là đích nhắm đến của BKT rồi, và nó đã được tính đến khi làm hệ thống bảng từ đầu mục.

Theo chúng tôi, có hai từ cần chú ý khi kiểm tra tính hệ thống của bảng từ đầu mục, mà nếu thoả mãn sự đánh giá của hai từ này thì bảng từ đầu mục bắt đầu đạt yêu cầu. Đó là hai chữ phù hợpcân đối.

- Phù hợp để kiểm tra các hệ thống dọc (ngành khoa học), các hệ thống con nằm trong hệ thống lớn. Phù hợp chính là sự hợp lí mang tính hệ thống - cấu trúc. Nó nói được sự cần thiết có mặt của bản thân nó với tư cách một đơn vị trong một tập hợp nào đó.

- Cân đối để kiểm tra hệ thống ngang (liên ngành). Các ngành có các hệ thống thuật ngữ, khái niệm, danh xưng tương đương nhau về mặt số lượng, không bên nhiều, bên ít, không quá “vênh” nhau về chất lượng của bảng từ đầu mục cả về nội dung lẫn hình thức (sự tinh gọn, chính tả, phiên âm,…).

3. Kết luận

Yêu cầu trong cấu trúc vĩ mô của BKT phải có tính hệ thống nghiêm ngặt là một yêu cầu chính đáng, bởi tầm quan trọng của chính loại sách công cụ này đối với xã hội. Nghiên cứu vấn đề này từ khái niệm cơ bản đến việc thử tìm hiểu cơ chế, bản chất của sự thể hiện và các yếu tố ảnh hưởng, rồi cách kiểm tra tính hệ thống trong cấu trúc vĩ mô của BKT là yêu cầu chung mang tính lí luận cần quán triệt. Rồi đây, khi phải bắt tay vào thực hiện công việc biên soạn bộ BKT nhiều tập đầu tiên mang tầm cỡ quốc gia, chúng ta sẽ còn trở lại vấn đề này.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Nguyễn Trọng Báu, Những vấn đề về bách khoa toàn thư và ngôn ngữ trong từ điển bách khoa, “Thông tin Khoa học xã hội”, 1992.

[2] Vũ Quang Hào, Kiểm kê từ điển học Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005.

[3] Nguyễn Kim Thản, Bách khoa thư: Nguồn gốc và phân loại, trong “Nguyễn Kim Thản, Tuyển tập”, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2003.

[4] Hà Học Trạc, Lịch sử - lí luận và thực tiễn biên soạn bách khoa toàn thư, NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2004.

[5] Nguyễn Như Trang, Quy trình biên soạn bộ Từ điển văn học dành cho học sinh phổ thông, “Từ điển học & Bách khoa thư”, s. 5, 2010.

[6] Tạ Văn Thông, Mục từ trong Bách khoa thư văn hoá Việt Nam, “Từ điển học & Bách khoa thư”, s. 2, 2009.

[7] Nguyễn Trung Thuần, Những điều chưa hợp lí trong việc xử lí các thuật ngữ - khái niệm bộ Từ điển bách khoa Việt Nam, “Từ điển học & Bách khoa thư”, s. 2, 2009.

[8] Trần Thị Tuyên, Về cấu trúc nội dung của bách khoa toàn thư và từ điển bách khoa tổng hợp, “Từ điển học & Bách khoa thư”, s. 1, 2009.

[9] Nguyễn Như Ý (chủ biên), Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1996.

[10] Zgusta L., Giáo trình Từ điển học (tài liệu dịch), Viện Ngôn ngữ học, 1978.

[11] Прохоров А. М. (гл. ред.), Советский энциклопедический словарь, Изд. “Сов. Энциклопедия”, Москва, 1986.

[12] Ярцева В. Н. (гл. ред.), Лингвистический энциклопедический словарь, Изд. “Сов. Энциклопедия”, Москва, 1990.

SUMMARY

The two-sided structure (macrostructure, microstructure) of dictionary is a basic principle in which lexicography has taken interest in. In this article, the author proposes some conceptions of how to organize and build these two structures properly in encyclopedias. According to the author, this is characterized by six aspects: scientific, systematic, ideological, modern, nationalist, user-friendly aspects…



Tạp chí Từ điển học và Bách khoa thư, số 02, năm 2011