Tìm hiểu cấu trúc vĩ mô và vi mô của từ điển thuật ngữ chuyên ngành Tiếng việt

03/07/2013

CN. HÀ THỊ QUẾ HƯƠNG

 

1Dẫn nhập

Khảo sát một cách gián tiếp qua cuốn Kiểm kê từ điển học Việt Nam [Vũ Quang Hào 2005] (các loại từ điển thuật ngữ về tiếng Việt, liên quan đến tiếng Việt, được dịch ra tiếng Việt, được biên soạn bằng tiếng Việt từ năm 1651 đến 2005 thuộc các lĩnh vực khác nhau), chúng tôi thống kê có được 330 cuốn từ điển thuật ngữ thuộc 3 loại như sau (không tính các cuốn từ điển về thuật ngữ được biên soạn và giải thích theo kiểu từ điển bách khoa): từ điển đối chiếu thuật ngữ (330 cuốn); từ điển giải thích thuật ngữ (35 cuốn); và từ điển vừa đối chiếu vừa giải thích thuật ngữ (82 cuốn).

Các loại từ điển thuật ngữ thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều ngành khác nhau. Có từ điển thuật ngữ của những ngành riêng lẻ như từ điển vật lí; từ điển ngôn ngữ học; từ điển toán học; từ điển triết học..., thậm chí có nhiều cuốn từ điển thuộc chuyên ngành hẹp như từ điển về nhiễm độc; từ điển ô tô, máy kéo; từ điển tinh thể học, từ điển giấy và bột giấy; từ điển trắc địa và bản đồ; từ điển về thổ nhưỡng học..., nhưng cũng có những cuốn từ điển thuật ngữ có tính chất liên ngành, tập hợp những thuật ngữ thuộc các lĩnh vực có liên quan như từ điển sử địa; từ điển xây dựng và kiến trúc; từ điển y dược; từ điển sử học, dân tộc học, khảo cổ học..., thậm chí có những từ điển thu thập các thuật ngữ trong phạm vi rộng, liên quan đến nhiều lĩnh vực như từ điển khoa học xã hội; từ điển khoa học công nghệ; từ điển khoa học kĩ thuật, từ điển chuyên môn... và số lượng từ điển thuật ngữ trong mỗi ngành lại không như nhau. Có những lĩnh vực có số lượng từ điển về thuật ngữ rất lớn như lĩnh vực công nghệ thông tin (38 cuốn), kinh tế - ngân hàng (39 cuốn), y học (25 cuốn), xây dựng – kiến trúc (21 cuốn)... nhưng cũng có những lĩnh vực có số lượng rất ít, thậm chí chỉ có một cuốn như từ điển về nhiễm độc, nhiếp ảnh, thuốc lá, thống kê, xã hội học, bảo tàng.... Qua khảo sát, chúng tôi đã thống kê có 231 từ điển thuật ngữ thuộc 60 lĩnh vực được phân loại một cách tương đối.

2. Từ điển đối chiếu thuật ngữ tiếng Việt

Đây là loại từ điển chiếm số lượng nhiều nhất trong tổng số các loại từ điển về thuật ngữ của tiếng Việt (213/330 cuốn).

Căn cứ vào số tiếng được lựa chọn làm ngôn ngữ nguồn để đối chiếu với ngôn ngữ nguồn, từ điển đối chiếu thuật ngữ tiếng Việt có các loại:

- Từ điển song ngữ (đối chiếu 2 ngữ): có 166 trong tổng số 213 cuốn từ điển thuật ngữ đối chiếu, chẳng hạn như từ điển thuật ngữ đối chiếu hai thứ tiếng Việt - Anh, Nga - Việt, Việt - Hàn, Ba Lan - Việt...

- Từ điển đa ngữ (đối chiếu từ 3 ngữ trở lên): có 46 cuốn, trong đó từ điển đối chiếu 3 ngôn ngữ (38 cuốn) như đối chiếu Việt - Anh - Pháp, Nga - Pháp - Việt, Đức - Anh - Việt…; từ điển đối chiếu 4 ngữ (6 cuốn) như đối chiếu Anh - Việt - Pháp - Đức, Nga - Trung - Pháp - Việt; từ điển đối chiếu 5 ngôn ngữ có 1 cuốn như đối chiếu Nga - Trung - Anh - Pháp - Việt; thậm chí có từ điển đối chiếu tới 7 ngữ như từ điển đối chiếu Việt - Anh - Nga - Pháp - Đức - Tây Ban Nha - Hán...

Căn cứ vào thứ tiếng được lấy làm ngôn ngữ nguồn trong từ điển đối chiếu, ta có: từ điển đối chiếu Việt - nước ngoài: 18 cuốn (ví dụ: Từ điển kĩ thuật lạnh Việt – Anh - Nga - Pháp - Đức - Tây Ban Nha - Hán; Từ điển hành chính Việt - Anh…); từ điển đối chiếu nước ngoài - Việt: 171 cuốn (ví dụ: Từ điển kĩ thuật cấp thoát nước Anh - Việt; Từ điển thuật ngữ xuất bản - báo chí Nga - Anh - Việt…); từ điển đối chiếu Việt - nước ngoài và nước ngoài - Việt: 24 cuốn (ví dụ: Từ điển An toàn thông tin Anh - Việt và Việt - Anh; Từ điển tin học điện tử viễn thông Anh - Việt, Việt - Anh…).

2.1. Cấu trúc vĩ mô (macrostructure)

Cấu trúc vĩ mô là cấu trúc dọc, xuyên suốt từ đầu đến cuối quyển từ điển. Nói đến cấu trúc vĩ mô của từ điển thì vấn đề quan trọng nhất đó chính là việc thiết lập bảng từ. Nó là danh sách các đơn vị từ vựng được lựa chọn theo mục đích, yêu cầu, tính chất của cuốn từ điển và được sắp xếp theo một trật tự nhất định tạo thành cấu trúc chặt chẽ.

Các mục từ trong bảng từ của từ điển đối chiếu thuật ngữ tiếng Việt không chỉ được sắp xếp theo ABC thông thường mà nhiều cuốn còn được xếp theo chuyên ngành, lĩnh vực và trong từng lĩnh vực mục từ lại được xếp theo trật tự chữ cái của ngôn ngữ nguồn. Chẳng hạn như Tự điển tổng hợp Anh - Việt máy tính [biên soạn: Đỗ Duy Việt, với sự cộng tác của Nguyễn Cẩn, NXB Thống kê, H.,1998] “Ngoài một số mục từ theo chuyên đề chung, tự điển xếp theo chữ cái ABC các mục từ từng chuyên đề, trong đó có các mục từ riêng.” [1, 694].

Có một số cuốn từ điển, các đơn vị trong bảng từ bao gồm cả các yếu tố phái sinh (15 cuốn). Các yếu tố phái sinh có thể được xếp thành các mục từ riêng hoặc được xếp thành mục nhỏ trong từ đầu mục. Ví dụ, Từ điển cơ khí Anh - Việt [biên soạn: Nguyễn Hạnh, NXB Từ điển Bách khoa, H., 2003], “Ngoài thuật ngữ chính với tư cách đầu mục, từ điển cấp nhiều thuật ngữ phái sinh trong mục từ.” [1, 496]; Từ điển hàng hải Anh - Việt [biên soạn: Nguyễn Văn Phòng, Vũ Phi Hoàng, NXB Giao thông vận tải, H., 1995], “Các thuật ngữ phái sinh được xếp trong cùng mục từ với từ đầu mục nhưng chỉ nhắc lại chữ cái của từ đầu mục.” [1, 531]; Từ điển khoa học và công nghệ Pháp - Việt [biên soạn: Nguyễn Ngọc Anh, Phạm Đồng Điện,…, NXB Khoa học & Kĩ thuật, H.,1997], “Thuật ngữ phái sinh của từ đầu mục được xếp trong cùng một mục từ và từ đầu mục chỉ được nhắc lại bằng chữ cái đầu.” [1, 544]…

Trong số các từ điển thuật ngữ đối chiếu tiếng Việt, đa số các quyển từ điển, bảng từ đều thu thập các đơn vị bao gồm thuật ngữ, các từ, cụm từ, thành ngữ… có liên quan đến chuyên ngành của từ điển đó (194 cuốn).Ví dụ Từ điển thuật ngữ xuất bản - báo chí Nga - Anh - Việt [biên soạn: Nguyễn Trọng Báu, Nguyễn Thành Châu, Quang Đạm, với sự cộng tác của Như Ý, NXB Khoa học xã hội, H., 1982] “Đối chiếu Nga - Anh - Việt những thành ngữ ngành xuất bản, ngành in, công tác phát hành sách và những thuật ngữ báo chí” [1, 626]; Từ điển kinh tế Việt - Anh, [biên soạn: Nguyễn Văn Luận, NXB TP Hồ Chí Minh] “Khoảng 35.000 thuật ngữ liên quan đến kiểm toán, ngân hàng, tài chính, kế toán, thị trường chứng khoán, thống kê, thuế…” [1, 552]… Ngoài ra có nhiều cuốn từ điển, bảng từ còn bao gồm cả tên riêng, các chữ viết tắt cũng được thu thập và được sắp xếp thành các mục từ riêng trong từ điển (19 cuốn ). Ví dụ: Từ điển cơ khí Anh - Việt [biên soạn: Nguyễn Hạnh, NXB Từ điển Bách khoa, H.,2003] “Bảng từ ngoài thuật ngữ chuyên ngành bao gồm cả danh pháp hoá học và tên riêng.” [1, 496]; Từ điển Anh - Việt thương mại tài chính ngân hàng [biên soạn: Nguyễn Thị Ái Nguyệt, Nguyễn Tùng Lâm, NXB Thế giới, NXB Mũi Cà Mau, 1995] “Chữ tắt được dùng với tư cách từ đầu mục, có chua dạng đủ tiếng Anh và dịch ra tiếng Việt, nếu là thuật ngữ” [1, 463]… Tuy nhiên đa số các cuốn từ điển có chữ viết tắt thì đều được xếp thành một bản phụ lục riêng.

- Nhiều cuốn từ điển đối chiếu thuật ngữ, cấu trúc vĩ mô còn bao gồm cả các bảng, phụ lục, tranh ảnh, hình vẽ… cung cấp một số thông tin bổ sung cho từ điển. (42 cuốn). Chẳng hạn cuốn Từ điển giấy và bột giấy Anh - Việt [biên soạn: Trần Doãn Ấn, Phạm Văn Hào, Nguyễn Hữu Lộ,…, NXB Khoa học & Kĩ thuật, H., 2002] có 3 bản phụ lục; Từ điển Hàng hải Anh - Việt [biên soạn: Đỗ Thái Bình, NXB Văn hoá Thông tin, H., 1995) có các tranh minh hoạ (đen trắng)…

2.2. Cấu trúc vi mô (microstructure)

Đa số các từ điển đối chiếu thuật ngữ đều có cấu trúc vi mô tương đối đơn giản, chủ yếu là gồm các thuật ngữ tương đương với thuật ngữ nguồn. Chỉ có một số ít từ điển, trong phần cấu trúc vi mô có thêm các thông tin khác như giải thích nghĩa của một số thuật ngữ quan trọng (10 cuốn), có đưa cách phiên âm (6 cuốn), đưa ví dụ (1 cuốn)… Thậm chí có cuốn, phần cấu trúc vi mô bao gồm nhiều thông tin. Chẳng hạn trong cuốn Từ điển kĩ thuật vô tuyến điện tử Nga - Việt [biên soạn: Phạm Văn Bảy, NXB Khoa học & Kĩ thuật, H.,1987], “ở một số mục từ, phần đặt trong ngoặc đơn hoặc là giải thích ngắn gọn nội dung của thuật ngữ Việt, hoặc là ghi chú chuyên ngành kỹ thuật, hoặc là chua tên tiếng nước ngoài theo nguyên dạng tiếng nguồn” [1, 561]; Từ điển khoa học và công nghệ Đức – Anh – Việt (biên soạn Nguyễn Văn Điền, Hoàng Thị Hoa, Nguyễn Văn Hoà…, NXB KHKT, H.,2004) “có chua từ loại cho từ đầu mục (tiếng Đức) và có chua các lĩnh vực, đối tượng của thuật ngữ” [1, 543]…

3. Từ điển đối chiếu và giải thích thuật ngữ tiếng Việt

Loại từ điển vừa đối chiếu, vừa giải thích thuật ngữ, do đó nó cũng có phần giống với từ điển đối chiếu thuật ngữ đó là phải có ít nhất từ hai ngôn ngữ trở lên.

Đa số từ điển đối chiếu và giải thích thuật ngữ đều là từ điển song ngữ (có 70 trong tổng số 82 quyển từ điển đối chiếu và giải thích thuật ngữ), chỉ có một số ít là từ điển đa ngữ (12 quyển), trong đó từ điển đối chiếu 3 thứ tiếng có 5 quyển, từ điển đối chiếu 4 thứ tiếng có 3 quyển, từ điển đối chiếu 5 thứ tiếng có 2 quyển và từ điển đối chiếu 6 thứ tiếng có 2 quyển.

Căn cứ vào thứ tiếng được lấy làm ngôn ngữ nguồn trong từ điển đối chiếu và giải thích thuật ngữ, ta có: từ điển đối chiếu Việt - nước ngoài: 14 cuốn (ví dụ: Từ điển tường giải kinh tế thị trường xã hội [biên soạn: Viện quốc tế Konrad-Adenauer, biên dịch Lương Văn Kế, với sự cộng tác của Hoài Ân, Lệ Thanh, Văn Tích, Cẩm Trang, NXB Từ điển Bách khoa, H., 2005) “Mỗi thuật ngữ tiếng Việt là từ đầu mục đều chua tiếng Đức” [1, 654]; Từ điển công nghệ sinh học Việt - Pháp - Anh [biên soạn: Nguyễn Ngọc Hải, NXB Khoa học & Kĩ thuật, H., 1997),); từ điển đối chiếu nước ngoài - Việt: 68 cuốn (ví dụ: Từ điển thuật ngữ chuyên ngành biên phiên dịch Anh - Việt [biên soạn: Nguyễn Văn Huyên, Đỗ Hữu Vinh, NXB Thanh niên, H., 2004]; Từ điển Anh – Việt giải thích thuật ngữ máy điện toán [biên soạn Nguyễn Văn Tân, Ninh Hùng, NXB Trẻ, TP HCM, 1994],…).

3.1. Cấu trúc vĩ mô

Cũng giống như từ điển giải thích thuật ngữ, cấu trúc vĩ mô của từ điển giải thích và đối chiếu thuật ngữ tiếng Việt, trong bảng từ chủ yếu thu thập các từ, cụm từ thuộc các lĩnh vực mà từ điển đề cập. Ngoài ra ở một số cuốn từ điển, bảng từ cũng bao gồm cả các tên riêng, danh pháp, các từ viết tắt (9 cuốn). Ví dụ: Từ điển triết học giản yếu [biên soạn: Hữu Ngọc (chủ biên), NXB Đại học & THCN, H.,1987) “Mục từ là tên riêng nước ngoài được giữ nguyên dạng (có chua dạng phiên âm)” [1, 646]; Từ điển Anh - Việt chuyên ngành công nghệ ô tô [biên soạn: Đỗ Văn Dũng, NXB Thống kê, H., 2003) “khoảng 9000 thuật ngữ thông dụng, bao gồm cả tiếng lóng, chữ tắt,…” [1, 458]; Từ điển giải nghĩa kĩ thuật kiến trúc và xây dựng Anh - Việt [biên soạn: Đoàn Định Kiến, Lê Kiều, NXB Khoa học & Kĩ thuật, H., 1994] “những thuật ngữ viết tắt cũng được xếp với tư cách là từ đầu mục” [1, 513]…

Có nhiều cuốn từ điển, ngoài các đơn vị từ vựng trong bảng từ còn có các tranh ảnh minh hoạ hay các bảng được bố trí xen kẽ trong bảng từ hoặc làm thành các bảng phụ lục (49 cuốn). Ví dụ: Tân từ điển điện toán [biên soạn: Đỗ Thông Minh (chủ biên), NXB Tân Văn/Mekong Center Publisher, Nhật Bản, 1995] “Khoảng 5000 thuật ngữ điện toán, đối chiếu Anh - Việt - Pháp (Đức - Hoa - Nhật] “có giải thích cặn kẽ, hình ảnh và phụ lục tra cứu” [1, 434]; Từ điển công nghệ thông tin Anh - Anh - Việt [biên soạn: Đỗ Duy Việt và nhóm cộng tác, NXB Thống kê, H., 1998) “Có minh hoạ màu. Phụ lục: Giải thích các thuật ngữ tiếng Việt nhưng xếp theo thuật ngữ tiếng Anh (chua bên cạnh thuật ngữ Việt); Danh sách các nhà cung cấp dịch vụ Internet; Mã các nước dùng Internet” [1, 492]…

3.2. Cấu trúc vi mô

Trong từ điển đối chiếu và giải thích thuật ngữ, thông thường cấu trúc vi mô bao gồm các phần: thuật ngữ nguồn, thuật ngữ đích tương đương và giải thích nghĩa của thuật ngữ. Tuy nhiên về cách sắp xếp các thông tin trong cấu trúc vi mô có khác nhau. Thông thường, các cuốn từ điển đều được giải thích bằng một thứ tiếng (hoặc tiếng nước ngoài, hoặc tiếng Việt), nhưng cũng có những cuốn từ điển giải thích bằng cả tiếng nước ngoài và tiếng Việt.

Đối với loại từ điển mục từ được giải thích bằng một thứ tiếng, cấu trúc vi mô có thể được sắp xếp theo các cách sau:

- Thuật ngữ nước ngoài - thuật ngữ Việt - giải thích bằng tiếng nước ngoài, ví dụ: Từ điển kĩ thuật Anh - Việt thông dụng [biên soạn: Phạm Văn Thiều, NXB Khoa học & Kĩ thuật, H.,1998] “gồm phần I: từ điển Anh - Việt có những thuật ngữ thông dụng nhất, giải thích bằng tiếng Anh; phần II: đối chiếu Việt - Anh.” [1, 554].

- Thuật ngữ nguồn (nước ngoài/Việt) - thuật ngữ đích (Việt/ nước ngoài) - giải thích bằng tiếng Việt, ví dụ: Từ điển Anh - Việt chuyên ngành tin học và kĩ thuật [biên soạn: Đặng Sơn Hồng, Lê Phương Thụ, Lê Minh Sang, Trần Hữu Minh, NXB TP.. HCM, 1997] “Cấu trúc mục từ: thuật ngữ tiếng Anh – thuật ngữ tiếng Việt – giải thích bằng tiếng Việt” [1, 459]; Từ điển cho người sử dụng máy tính [biên soạn: Bryan Pfaffen-Berger, biên dịch Bùi Xuân Toại, NXB Giáo dục, H.,1994] “Cấu trúc mục từ: thuật ngữ tiếng Anh - thuật ngữ tiếng Việt - giải thích bằng tiếng Việt” [1, 487]; Từ điển miễn dịch học (phần giải nghĩa) [biên soạn: biên soạn Vũ Triệu An (chủ biên), Nguyễn Đình Hường, Nguyễn Thị Hội, Phạm Mạnh Hùng, Phạm Văn Long, Nguyễn Hữu Mô, Hoàng Thuỷ Nguyên, Đỗ Dương Thái, Vy Huyền Trác, Đặng Đức Trạch (chủ biên), NXB Y học, H.,1978] “Sau mỗi thuật ngữ tiếng Việt (với tư cách từ đầu mục) có chua tiếng Anh và tiếng Pháp. Tiếp đến là lời giải thích” [1, 568]; Từ điển thuật ngữ đường thuỷ nội địa “có chuyển chú thuật ngữ sang tiếng Anh) [biên soạn: Ngô Xuân Sơn (chủ biên), Phạm Hồng Bàng, Vũ Thanh Bình, Lê Đình Doanh…, NXB Giao thông Vận tải, H.,2002] “Cấu trúc mục từ: thuật ngữ Việt - thuật ngữ Anh – định nghĩa bằng tiếng Việt” [1, 617]...

- Thuật ngữ nước ngoài - thuật ngữ tiếng Việt - thuật ngữ nước ngoài khác - giải thích bằng tiếng Việt (đối với các loại từ điển đối chiếu đa ngữ), ví dụ: Từ điển ngoại thương Anh - Việt - Nga - Pháp [biên soạn: Nguyễn Đức Dỵ, Đỗ Mộng Hùng, Vũ Hữu Tửu, Vũ Hoài Thuỷ, Trường Đại học Ngoại thương xuất bản, H.,1985] “Lấy thuật ngữ tiếng Anh làm thuật ngữ cơ sở để đặt thuật ngữ Việt, Pháp và Nga tương đương, sau đó giải thích thuật ngữ đó bằng tiếng Việt.” [1, 576]; Từ điển thuật ngữ kinh tế tài chính Pháp - Việt - Anh - Đức - Tây Ban Nha [biên soạn: Bernard & Colli, biên dịch Trịnh Văn Tùng, NXB Thế giới, H.,2005] “Cấu trúc mục từ: từ đầu mục tiếng Pháp – từ tương đương tiếng Việt (có đồng nghĩa) - đối chiếu Anh, Đức, Tây Ban Nha - giải thích, định nghĩa thuật ngữ bằng tiếng Việt” [1, 621].

- Thuật ngữ nước ngoài - giải thích bằng tiếng Việt - thuật ngữ nước ngoài khác, ví dụ: Từ điển ngoại thương Nhật - Việt - Anh [biên soạn: Nguyễn Văn Hảo, NXB Đại học & THCN, H.,1992] “Từ điển ba thứ tiếng nhưng được xếp thành bốn cột: cột đầu viết bằng chữ Higarana và/hoặc Katakana (đối với từ ngoại lai), cột thứ hai viết bằng chữ Hán, cột thứ ba nghĩa thuật ngữ (bằng tiếng Việt), cột thứ tư: thuật ngữ tiếng Anh.” [1, 577].

- Thuật ngữ tiếng nước ngoài giải thích bằng tiếng Việt, ví dụ: Từ điển hoá học [biên soạn: Tạ Hùng, Bích Thuỷ, NXB Đồng Nai, 1996] “Từ đầu mục là tiếng Anh (có chua phiên âm) và giải thích thuật ngữ bằng tiếng Việt” [1, 534]; Từ điển kinh doanh thế giới Anh - Việt [biên soạn: Nguyễn Ngọc Anh, Nguyễn Anh Dũng, Xuân Hùng, Lê Thị Kim Thoa, Nguyễn Thị Tuyết, NXB Đồng Nai, 1997] “Từ đầu mục là tiếng Anh, giải thích nghĩa bằng tiếng Việt” [1, 547].

Đối với loại từ điển mà phần giải thích bằng 2 ngôn ngữ thì cấu trúc vi mô của từng mục từ được sắp xếp theo các cách sau:

- Thuật ngữ nguồn (bằng tiếng nước ngoài) - thuật ngữ đích (Việt) - giải thích bằng tiếng nước ngoài (chủ yếu là tiếng Anh) - giải thích bằng tiếng Việt, ví dụ: Từ điển thuật ngữ thị trường chứng khoán Anh - Anh - Việt [biên dịch: Lê Công Thượng, NXB Trẻ, TP HCM, 2004] “Cấu trúc mục từ: từ đầu mục tiếng Anh - tiếng Việt, giải thích bằng tiếng Anh và tiếng Việt” [1, 623]…

- Thuật ngữ nguồn (bằng tiếng nước ngoài) - giải thích bằng tiếng nước ngoài (đa số là giải thích bằng tiếng Anh) - thuật ngữ bằng tiếng Việt - giải thích bằng tiếng Việt, ví dụ: Từ điển giải thích thuật ngữ công nghệ sinh học lương thực và nông nghiệp Anh - Anh - Việt [biên soạn: A. Zaid, H. G. Hughes, E. Porceddu, F. Nicholas, người dịch Nguyễn Bá Sửu, NXB Khoa học & Kĩ thuật, H., 2004] “Cấu trúc mục từ: thuật ngữ tiếng Anh - tường giải bằng tiếng Anh - thuật ngữ tiếng Việt tương đương – tường giải bằng tiếng Việt” [1, 517]; Từ điển toán học Anh - Anh - Việt [biên soạn: Lê Ngọc Thiện, Sĩ Chương, Nxb. GTVT, H., 2005) “… từ điển toán học Anh - Anh - Việt trình bày song song hai cột: từ đầu mục Anh, giải thích bằng tiếng Anh; từ đầu mục Việt, giải thích bằng tiếng Việt” [1, 639]…

Như vậy, cấu trúc vi mô của đa số các quyển từ điển đối chiếu và giải thích thuật ngữ tiếng Việt đều tương đối đơn giản, được trình bày theo các cách như trên. Tuy nhiên, một số cuốn từ điển trong cấu trúc vi mô, ngoài phần định nghĩa, giải thích thuật ngữ có cuốn từ điển còn chú cách phát âm, có cuốn đưa cả các ví dụ minh hoạ, thậm chí có những cuốn từ điển có cấu trúc vi mô tương đối phức tạp, bao gồm nhiều thông tin khác như thông tin về ngữ âm (chua cách phát âm), thông tin về từ loại, có chua chuyên ngành, và có ví dụ… Ví dụ: Từ điển y học Anh - Việt [biên soạn: Phạm Ngọc Trí (chủ biên), cộng tác Anh Dũng, Thuỵ Thảo, Thanh Phong, Bích Nga, NXB Y học, H., 2000, 2004] “Đây thực chất là từ điển dịch. Cấu trúc mục từ: từ đầu mục tiếng Anh (có chua phiên âm và từ loại) - tường giải bằng tiếng Anh - thuật ngữ tương đương Việt - tường giải bằng tiếng Việt” [1, 688]; Từ điển quản lí kinh doanh tài chính [Người dịch: Trần Ngọc Thịnh, với sự cộng tác của Lê Hân, Quang Hùng, NXB Thế giới, H., 1994]” Sau mỗi từ đầu mục (tiếng Anh) có các chỉ dẫn về đề tài ngành, chỉ dẫn từ loại, định nghĩa, ví dụ Anh và ví dụ Việt. Ở một số mục đưa cụm từ chứa đầu mục, dạng khác của từ đầu mục, thành ngữ, phần tham khảo thêm từ đầu mục đã nói trong định nghĩa. Cột bên phải của mỗi mục từ là những chỉ dẫn: tham khảo thêm từ đầu mục khác và nghĩa liên quan, các dạng của động từ, các lưu ý về động từ, lựa chọn một trong hai cách đọc từ đầu mục, từ Mĩ, số nhiều của từ đầu mục… Tất cả các từ đầu mục đều có chua cách phát âm” [1, 595].

4. Từ điển giải thích thuật ngữ tiếng Việt

Trong tổng số 330 cuốn từ điển tiếng Việt về thuật ngữ thì chỉ có 35 cuốn là từ điển giải thích thuật ngữ, trong đó có tới 8 cuốn là từ điển dịch.

4.1. Cấu trúc vĩ mô

+ Các đơn vị trong bảng từ của đa số các cuốn từ điển giải thích tiếng Việt là thuật ngữ (bao gồm cả từ và cụm từ), có một số ít cuốn từ điển giải thích thuật ngữ còn thu thập cả tên riêng như Từ điển y học phổ thông [biên soạn: Hoàng Trọng Quang, Lê Thấu (đồng chủ biên), Trần Văn Bính, Trần Việt Dũng, Đào Xuân Dũng, Nguyễn Cao Thâm, Hoàng Minh, NXB Y học, H., 2004] “Gồm 670 thuật ngữ y học phổ cập (chủ yếu về y học cộng đồng), 410 danh nhân y học thế giới trong đó có toàn bộ các nhà khoa học được giải Nobel y học trong 100 năm (1901-2001), 414 tên vị thuốc y học dân tộ cổ truyền, 500 tên thuốc, hoá dược của y học hiện đại và tổ chức hoạt động của ngành y tế Việt Nam. Giới thiệu 6.300 thầy thuốc chuyên khoa I, cùng các thầy thuốc đã và đang làm công tác quản lý đơn vị từ trực thuộc Sở cac cơ quan đơn vị thuộc Bộ Y tế”.

+ Các đơn vị đầu mục từ trong từ điển không chỉ được sắp xếp theo trật tự chữ cái tiếng Việt thông thường mà trong một số quyển từ điển, chúng được phân chia theo từng chủ đề, lĩnh vực riêng và trong mỗi chủ đề, lĩnh vực đó lại được sắp xếp theo trật tự chữ cái ABC. Ví dụ: Đại từ điển kinh tế thị trường [biên soạn: gần 200 học giả Trung Quốc, 1993]” Xếp theo từng chuyên đề (giữ nguyên thứ tự các mục từ của bản nguồn): gồm 7 phần… Trong mỗi phần có các chương. Mục từ ở mỗi chương được xếp theo ABC.” [1, 427].

+ Nhiều cuốn từ điển giải thích thuật ngữ còn có cả tranh ảnh minh hoạ, các bảng tra cứu hay phụ lục (15 cuốn), ví dụ: Từ điển cơ khí [NXB Nông nghiệp, M.,1975, biên soạn: G. V. Gu-li-a-ep, V. V. Man-chen-ko, biên dịch: Trịnh Bá Hữu, Lê Đình Lương, Lê Duy Thành, Tạ Toàn, NXB Khoa học & Kĩ thuật, H., 1981] có minh hoạ đen trắng; Từ điển tra cứu toán học và điều khiển học trong kinh tế [biên soạn: N.P. Phê-đô-ren-kô, L. V. Kan-tô-rô-vich, V. I. Đa-ni-lôp – Đa-ni-ly-an, A. A. Kô-nôx, E. Z. Mai-mi-nax, Iu. N Trê-rê-mơ-nưc, Iu. I. Trê-rơ-ny-ac, NXB Kinh tế, M., 1971, 1975, biên dịch: Lê Xuân Nam, Phùng Ngọc Nghiên, Lê Quang Thiệp, Trần Vũ Thiệu, Vũ Đình Tích, NXB Khoa học & Kĩ thuật, H., 1980) có phụ lục Bảng kê một số kí hiệu toán học” [1, 643]… Có cuốn từ điển, ở một số mục từ còn đưa cả thuật ngữ đồng nghĩa như Từ điển y học hội chứng, dấu hiệu, bệnh tật [biên soạn: Đinh Văn Chí, Nguyễn Hữu Lộc, Nguyễn Văn Tiệp, Lê Văn Tri, NXB Y học, H., 2004].

4.2. Cấu trúc vi mô

+ Đa số các từ điển giải thích thuật ngữ có cấu trúc vi mô chỉ bao gồm phần giải thích khái niệm hay định nghĩa thuật ngữ. Chỉ một số ít cuốn từ điển, ngoài phần giải thích còn có các thông tin bổ sung về từ loại, chú xuất xứ thuật ngữ thuộc lĩnh vực gì... Chẳng hạn, cuốn Từ điển giải thích thuật ngữ toán - lý - hoá - sinh trong sách giáo khoa phổ thông [biên soạn: Như Ý, Việt Hùng, NXB Khoa học & Kĩ thuật, H., 1994] “Sau mỗi thuật ngữ từ đầu mục có chua (viết tắt hoặc không tắt) xuất xứ của thuật ngữ (thuộc môn gì)” [1, 518]. Hay trong cấu trúc vi mô của Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học [biên soạn: Nguyễn Như Ý (chủ biên), Hà Quang Năng, Đỗ Việt Hùng, Đặng Ngọc Lệ, NXB Giáo dục, H., 1996], ngoài phần giải thích thuật ngữ còn “có đưa thêm “nguyên văn lời định nghĩa hoặc lời giải thích về thuật ngữ” (với tư cách là từ đầu mục) từ các công trình của các nhà Việt ngữ học” [1, 517].

5. Kết luận

Từ việc khảo sát một cách gián tiếp các cuốn từ điển thuật ngữ tiếng Việt, chúng ta có thể hình dung sơ bộ bức tranh toàn cảnh về từ điển thuật ngữ tiếng Việt như sau:

- Trong số các loại từ điển hiện có ở Việt Nam (từ điển được xuất bản bằng tiếng Việt, có liên quan đến tiếng Việt, về tiếng Việt, được dịch ra tiếng Việt) từ năm 1651 (Từ điển Việt - Bồ - La đến các cuốn in năm 2005), chúng tôi thống kê có khoảng 330 đầu từ điển về thuật ngữ (bao gồm từ điển đối chiếu thuật ngữ, từ điển giải thích thuật ngữ và từ điển vừa đối chiếu, vừa giải thích thuật ngữ) được phân loại một cách tương đối theo 60 lĩnh vực. Như vậy có những lĩnh vực có số lượng từ điển thuật ngữ lớn, nhưng có nhiều lĩnh vực có rất ít từ điển thuật ngữ thuộc chuyên ngành đó. Và chắc chắn còn có nhiều ngành, nhiều lĩnh vực chưa có từ điển thuật ngữ để phục vụ cho ngành đó;

- Trong số các cuốn từ điển thuật ngữ tiếng Việt thì loại từ điển đối chiếu thuật ngữ chiếm số lượng lớn nhất, sau đó là từ điển vừa đối chiếu vừa giải thích thuật ngữ. Từ điển giải thích thuật ngữ chiếm số lượng ít, chỉ khoảng 1/10 tổng số từ điển về thuật ngữ tiếng Việt, mà có tới 1/3 số đó là dịch từ các cuốn từ điển của nước ngoài;

 - Về cấu trúc vĩ mô của từ điển thuật ngữ tiếng Việt, trong bảng từ của đa số các cuốn từ điển thuộc cả ba loại từ điển về thuật ngữ không chỉ thu thập các từ, cụm từ có liên quan đến lĩnh vực mà từ điển đề cập tới mà đôi khi còn bao gồm cả các thành ngữ, các chữ viết tắt, danh pháp, tên riêng… cũng được thu thập thành những mục từ riêng trong bảng từ;

- Nhiều cuốn từ điển thuật ngữ ngoài bảng từ còn có các bảng phụ lục đưa những thông tin bổ sung cho từ điển. Một số cuốn còn có các hình vẽ, tranh ảnh minh hoạ;

- Các đơn vị mục từ không chỉ được xếp theo trật tự chữ cái thông thường theo ngôn ngữ của thuật ngữ nguồn mà nhiều cuốn được sắp xếp theo chuyên ngành hẹp hơn thành từng chương, từng mục… và trong mỗi chuyên ngành, mỗi chương, mỗi mục, mục từ lại được sắp xếp theo trật tự chữ cái;

- Nhìn chung các từ điển thuật ngữ đều có cấu trúc vi mô tương đối đơn giản. Đối với loại từ điển đối dịch thì cấu trúc vi mô chủ yếu bao gồm thuật ngữ nguồn và thuật ngữ đích tương đương; với loại từ điển giải thích thì cấu trúc vi mô chủ yếu là giải thích hay định nghĩa thuật ngữ; còn với từ điển vừa đối chiếu, vừa giải thích thuật ngữ thì cấu trúc vi mô của chúng gồm cả phần giải thích thuật ngữ và cả thuật ngữ tương đương. Chỉ một số ít các cuốn từ điển, ngoài định nghĩa hay thuật ngữ tương đương có thêm các thông tin bổ sung như phiên âm, chú từ loại, xuất xứ chuyên ngành, ví dụ…

Với việc khảo sát này chúng ta có thể rút ra những kinh nghiệm cho công tác biên soạn các quyển từ điển về thuật ngữ tiếng Việt, để trên cơ sở đó có thể biên soạn những cuốn từ điển thuật ngữ tiếng Việt ngày càng tốt hơn, đáp ứng kịp thời mọi nhu cầu ngày càng tăng của xã hội.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Vũ Quang Hào, Kiểm kê từ điển học Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2005.

[2] Bùi Hiền, Từ điển song ngữ, đa ngữ: nhìn từ góc độ giáo học pháp ngoại ngữ, “Từ điển học & Bách khoa thư”, s. 1, 2009.

[3] Viện Ngôn ngữ học, Một số vấn đề từ điển học, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997.

[4] Hồ Hải Thuỵ, Hai cuốn sách dạy cách làm từ điển, “Ngôn ngữ & Đời sống”, s. 6, 2009.

[5] Chu Bích Thu, Giới thiệu sơ lược về từ điển và từ điển học Việt Nam, “Ngôn ngữ”, s. 14, 2001.

[6] Zgusta L., Giáo trình từ điển học, bản dịch của Viện Ngôn ngữ học, 1971.

 

SUMMARY

With over 300 language dictionaries and dictionaries of terminology (bilingual, explanatory and hybrid dictionaries of terminology…) the author classifies them according to areas in order to learn about the way of organizing macrostructure and microstructure of these types of dictionary. That will serve as grounds for compilers of dictionaries of terminology of Vietnam to refer to.

 


Tạp chí Từ điển học và Bách khoa thư, số 02, năm 2011