Bộ từ điển bách khoa đầu tiên của Việt Nam

03/07/2013

 

NGUYỄN TRUNG THUẦN

 

1 Giới thiệu qua tác phẩm và tác giả

Đó là bộ từ điển có tên “Việt Nam Bách khoa Từ điển” gồm (?) quyển, khổ in 28x22cm, có hình minh hoạ và bản đồ đen trắng và màu, có phụ chú tiếng Hán, tiếng Anh và tiếng Pháp, do Đào Đăng Vỹ biên soạn xuất bản từ năm 1959-196311, “với sự cộng tác của một nhóm văn sĩ, giáo sư, nghệ sĩ và trí thức đủ mọi ngành chuyên môn”.2

Đào Đăng Vỹ (1908-1997) là nhà văn, nhà nghiên cứu và nhà biên soạn từ điển, dịch giả có tiếng của Việt Nam. Riêng trong lĩnh vực từ điển, ông đã được biết đến với các bộ từ điển do mình biên soạn như Pháp Việt Đại Từ điển (1949-1952, 1963, 1970), Việt Pháp Đại Từ điển ( 1956, 1963, 1970), Pháp Việt Từ điển Phổ thông (1954-1956, 1960, 1963, 1965, 1970), Pháp Việt Tiểu Từ điển (1961, 1963, 1966, 1970), Việt Pháp Tiểu Từ điển (1962, 1964, 1966, 1970), Việt Nam Bách khoa Từ điển (cuốn I, II, III...; 1959-1963).

Theo lời tác giả, bộ “Việt Nam Bách khoa Từ điển” được thành hình “là do lời khuyến khích nồng nhiệt của nhiều bạn trong văn giới và học giới, nhất là do sự cộng tác đầy công tâm và chân thành của những bằng hữu (...) đã giúp đỡ chúng tôi mỗi người một phần hoặc ít hoặc nhiều trong mọi phương diện (biên soạn, khảo cứu, duyệt chỉnh, hiệu đính hoặc cấp tài liệu, tranh ảnh hay minh hoạ...”3. Những “bằng hữu” được liệt kê trong bộ sách có: Phan Khoang (nghiên cứu lịch sử Trung Quốc và Việt Nam); Nguyễn Khoa Chi (kĩ sư canh nông); bác sĩ Nguyễn Hy Vọng; Nguyễn Phước Thiện (tiếng Anh); bác sĩ Phan Huy Quát; Bửu Đôn (kĩ sư cầu đường); Thái Văn Kiềm (nhà văn); Nguyễn Đăng Thục (giáo sư triết học); Nguyễn Xuân Hy (giáo sư văn học) cùng một số người khác lo phần vẽ hình minh hoạ và bản đồ.

Quyển 1: Mở đầu bằng 10 Phụ trương : 1) Lịch trình tiến hoá của nhân loại (kĩ thuật, nghệ thuật, khoa học...); 2) Niên biểu đối chiếu lịch sử và văn học sử thế giới và Việt Nam; 3) Vũ trụ, Thái dương hệ và Địa cầu (Trời, Đất, Trăng, Sao...); 4) Nguồn sống trên địa cầu (Sinh vật trong các thời đại, loài người xuất hiện...); 5) Địa cầu, lục địa, đại dương (diện tích, dân số, núi sông...); 6) Đông Dương và Việt Nam (diện tích, dân số, núi sông, khí hậu); 7) Các quốc gia trên thế giới (diện tích, dân số, thủ đô, chính thể, tiền tệ); 8) Các đô thị quan trọng trên hoàn cầu; 9) Kinh tế các cường quốc trên thế giới và Việt Nam (Bảng A); 10) Kinh tế các cường quốc trên thế giới và Việt Nam (Bảng B). Các phụ trương này được trình bày tóm tắt dưới dạng bảng biểu hết sức công phu, có giá trị tham khảo và đáng tin cậy.

“Đó là những khái quát biểu về những vấn đề cần thiết cho người muốn trau dồi thêm tri thức, hay là những bản vị vong cho nhưng người học rộng cần tra lại nhiều điều có thể nhãng quên trong nhất thời”4.

Tiếp theo là phần các mục được xếp theo thứ tự a, b, c có nội dung kèm theo của từng mục. Các bài viết cho từng chủ đề xuất hiện trong bộ từ điển dưới dạng từng mục giải nghĩa hoặc mục giải thích riêng, xin tạm gọi chung là các mục định nghĩa và mục giải thích.

2. Ý đồ biên soạn chính của tác giả bộ TĐ

Trong lời Tựa, tác giả viết: “Bộ Việt Nam bách khoa từ điển của chúng tôi không có tham vọng đi sâu vào mọi vấn đề, nhất là những vấn đề hoàn toàn chuyên môn. Chúng tôi chỉ mong người dùng sách này, trong lúc tra cứu một danh từ, có thể có một quan niệm khái quát tối thiểu về mọi vấn đề liên quan đến danh từ ấy: các vấn đề lịch sử, địa lý, cũng như các vấn đề khoa học, toán học, chính trị, v.v. Chúng tôi lại muốn trình bày những chỉ dẫn cần thiết về mọi điều thực tế, những điều mà người học thức cũng như người ít học đều có thể cần biết (ví dụ những chức tắt BBC, AJAT, CAT, WRAC... ta thường nghe hoặc thường thấy trên báo chí là gì), hoặc cần nhớ lại mà khỏi phải tìm lâu lắc trong nhiều sách chuyên khoa hay nhiều tài liệu khó kiếm (như muốn biết Hoà-đa ở đâu, tỉnh An-giang có bao nhiêu làng, nước Bảo-gia-lợi là gì, thành New York ở đâu...). Cũng có người muốn tìm biết Trạng-Trình là ai, Hồ-xuân-Hương, Nguyễn-Du là ai..., hoặc Bạch-cư-Dị, Pasteur, André Gide, Shakespeare, Hemingway, Tolstoï, Maxime Gorki là ai..., Hồn bướm mơ tiên là gì, Bích-câu kỳ-ngộ là gì, Trường-hận-ca là gì, hoặc cũng có người muốn nhớ lại một công thức toán-lý-hoá hay muốn biết nguồn gốc âm nhạc là sao, tên tuổi và hành động của các nhà cách mạng Việt-Nam ra sao, văn hoá Ấn-độ và Trung-Hoa có những gì v.v., mỗi mỗi đều có thể chỉ tra tìm trong cuốn sách này cũng đã biết qua, hay để nhớ lại”.

3. Một vài mô tả chính về bộ TĐ

3.1. Bộ từ điển được biên soạn dựa theo các chủ đề chính sau:

1. Lịch sử loài người

2. Lịch sử các dân tộc, các quốc gia, miền tỉnh

3. Địa lý các châu, các nước, các miền, các xứ trên thế giới

4. Các vấn đề về thiên văn học

5. Các vấn đề thuộc về cổ học, địa chất học...

5. Các tôn giáo

7. Các vấn đề văn học

8. Các vấn đề mĩ thuật

9. Khoa học và kĩ thuật

10. Y học, vệ sinh

11. Luật học

12. Những vấn đề thường thức

13. Các quốc gia lớn trên hoàn cầu

14. Các đô thị lớn nhất hoàn cầu

15. Kinh tế hoàn cầu

16. Những điều cần biết về các tỉnh, quận, thị xã của Việt Nam

17. Các nhân vật danh vọng trong lịch sử và hiện đại

18. Các cổ tích

19. Các văn phẩm

20. Các hình ảnh cần ích, các địa đồ quan trọng

Mỗi một chủ đề sẽ bao gồm những bài viết cộng với các phụ trương có liên quan. Ví dụ: Chủ đề “Địa lí các châu, các nước, các miền, các xứ trên thế giới” có các bài viết về Ả-rập, Ai-cập, Ấn-độ, Âu-châu, Ba-xuyên, Bà-rịa, Ba-lan... và xem thêm Phụ trương VII là “Các quốc gia trên thế giới”. Lại có những chủ đề không có bài viết nào, nội dung của những vấn đề nêu lên sẽ được cung cấp bởi các Phụ trương. Ví dụ các nội dung Vũ trụ là gì, tinh vân là gì, Ngân hà là gì, Thái dương hệ là gì, Mặt trời lớn bao nhiêu, xa ngần nào, Địa cầu có từ bao giờ, các hành tinh, các sao xa gần... thuộc chủ đề “Các vấn đề về thiên văn học” sẽ được cung cấp ở Phụ trương III là “Vũ trụ, Thái dương hệ và Địa cầu”. Hay các nội dung sinh vật có từ lúc nào trên quả đất, loài người xuất hiện đã bao nhiêu năm, mỗi nguyên đại có cây cối thú vật gì xuất hiện... thuộc chủ đề “Các vấn đề thuộc về cổ học, địa chất học” sẽ được cung cấp ở Phụ trương IV là “Nguồn sống trên địa cầu”.

Đặc biệt, có những phụ trương đóng vai trò đồng thời cung cấp nội dung cho nhiều chủ đề khác nhau, như Phụ trương I “Lịch trình tiến hoá của nhân loại” cung cấp nội dung cho các chủ đề như “Lịch sử loài người”, “Các tôn giáo”, “Các vấn đề mĩ thuật”, “Khoa học và kĩ thuật”, “Y học, vệ sinh”, “Luật học”; Phụ trương II “Niên biểu đối chiếu lịch sử và văn học sử thế giới và Việt Nam” cung cấp nội dung cho các chủ đề “Lịch sử loài người”, “Các vấn đề văn học”, “Các văn phẩm”.

3.2. Các mục được đưa vào bộ từ điển bao gồm 2 loại chủ yếu:

3.2.1. Các danh từ: Gồm danh từ thông dụng và danh từ khoa học. Được xử lí như với các mục định nghĩa trong từ điển ngữ văn hay từ điển giải thích.

3.2.1.1. Các danh từ thông dụng:

Các danh từ là mục định nghĩa chính được viết hoa chữ cái đầu. Dấu || được sử dụng để ngăn cách nghĩa, ngăn cách phần chuyển chú, ngăn cách phần chú ngôn ngữ. Kế dưới các mục định nghĩa chính này là tất cả các tổ hợp của nó (nếu có), là những mục định nghĩa phụ (nằm trong mục định nghĩa chính), không viết hoa chữ cái đầu. Tất cả các mục định nghĩa chính và phụ đều có chú tiếng Hán ở sau tên mục định nghĩa (với các từ gốc Hán) và có tiếng Pháp, tiếng Anh ở cuối nội dung định nghĩa.

Ví dụ:

Bỉ 郫 Khinh thường, xem thường, xem nhỏ, làm nhục (...) || Ph Mépriser, mépris. A To despise, to contempt.

|| Quê mùa, thô tục, hèn hạ (...) || Ph Rustre, grossier. A Rough, rude, unmannerly

|| Đánh khinh (...) || Ph Mérisable. A Despicable, contemptible.

|| Biển lận, keo cú (...) || Ph Avare, avarice A Miser, niggard; avarice, niggardliness.

|| Xem khinh bỉ

làm bỉ Làm nhục, làm cho ai bị khinh || Ph Outrager. A To insult, to outrage.

bỉ cho ai Nhục cho ai (...) || Ph Honteux pour qqn.

“Mỗi danh từ đều giảng giải rõ ràng và mỗi nghĩa riêng đều có một hay hai thí dụ thông thường kèm theo hoặc những danh văn cổ kim, những tục ngữ, ca dao việc dẫn để cho thêm sánh nghĩa hoặc để chỉ rõ sự tiến triển ý nghĩa của mỗi chữ qua các thời đại. Chúng tôi cũng không quên viện thêm cho mỗi danh từ những chữ đồng nghĩa hoặc phản nghĩa mỗi lúc có hoặc cần... Sau mỗi chữ, chúng tôi lại chỉ thêm những chữ kép có thể hợp thành do chữ trên với một chữ khác. Nhưng để khỏi mất chỗ vô ích và để cho sách này không vượt khỏi một khuôn khổ quá rộng lớn, chúng tôi đã phải loại bỏ những nghĩa quá cầu kì, những thành ngữ chỉ có một tính cách nhất thời khó tồn tại lâu dài trong ngôn ngữ”5.

Các danh từ khoa học

Các danh từ khoa học (tương đương với thuật ngữ theo cách gọi hiện nay) là mục định nghĩa chính được viết hoa chữ cái đầu, có chú thêm nguyên ngữ (với các danh từ phiên âm là mục định nghĩa chính), có chú thêm tiếng Hán (với các danh từ gốc Hán), tên ngành, công thức hoá học. Tất cả các mục định nghĩa chính và phụ đều có chú tiếng Pháp, tiếng Anh ở cuối nội dung định nghĩa, được ngăn cách bởi dấu ||.

Ví dụ:

A-cê-ti-len (acétylen) (Hoá: C­2H2) Khí cháy (...)

A-cit (acit) (Hoá) Hợp chất (...) || Ph Acide. A Acide.

An-tức-hương 安息香 (Thực) Một giống cây (...) || Ph Benzoin. A Benzoin, gum benzoin

An-tức-toan 安息酸 Chất a-cit lấy ở cây (...) || Ph Acide benzoique. A Benzoic acide.

3.2.2. Các tên riêng: Bao gồm các tên riêng về lịch sử, địa lí và tên các nhân vật, tổ chức, tác phẩm... Được xử lí như các mục giải thích trong từ điển bách khoa.

“Các tên về lịch sử và địa lí của nước nhà cũng như của vạn quốc đều được chú ý và giảng giải rành rẽ như: A-lịch-sơn-đại (Alexandre le Grand), Alexandre de Rhodes, Bạch-cư-Dị, Ấn-độ, Eisenhower, Hemingway, Shakespeare, Maxime Gorki, Nguyễn-Du, Tản-Đà, Chi-Lăng...”6.

Các tên riêng là mục giải thích chính đều được in bằng chữ in hoa; các tên riêng là mục giải thích phụ (nằm trong mục giải thích chính) được in bằng chữ in thường, viết hoa chữ cái đầu. Các mục giải thích đều có chú nguyên ngữ hoặc có chú chữ Hán (với những mục giải thích phiên âm qua tiếng Hán).

3.3. Minh hoạ và bản đồ

Bộ sách bao gồm các loại thuộc “kênh hình” chính sau:

- Bản đồ hành chính các châu, quốc gia trên thế giới và các tỉnh, quận của Việt Nam.

- Tranh, ảnh, hình vẽ minh hoạ

- Một số phụ bản màu.

4. Một vài nhận xét chính

4.1. Bộ sách là công trình pha trộn giữa 3 thể loại từ điển: Từ điển ngữ văn + Từ điển đối chiếu + Từ điển bách khoa, tạm gọi là từ điển hỗn hợp.

Có thể thấy rõ tính chất pha trộn hỗn hợp này ở các ví dụ sau đây:

Cây (xem thực vật, thực vật học, thảo mộc) Tên gọi chung những vật có sống có chết, có sinh sản, có ăn, có dinh dưỡng nhưng không cử động được, nên thường cũng gọi là thực vật (những vật cử động được gọi là động vật).

Cây thường có thân, có , có rễ, có hoa và có trái, nhưng cũng có giống cây mà cơ thể không phân hoá rõ ràng như thế (như nấm, rong), hoặc cây có thân và lá mà không rễ không hoa (như rêu), có loại sinh sản bằng hoa (hiển hoa thực vật), có loại sinh sản mà không hoa (ẩn hoa thực vật) v.v.

Cơ thể của cây cũng có muôn hình vạn trạng: từ những cây to lớn như cây thông cây giẻ đến những cây nhỏ xíu như cây rêu cây nấm, ta thấy biết bao nhiêu là thứ khác nhau. Vì vậy, thực vật học là một khoa học rất phức tạp (xem thực vật học). Cây cối là yếu tố cần thiết cho nguồn sống của vạn vật trên địa cầu. Cây thu hút các khoáng chất dưới đất và carbon của không khí để biến thành đồ ăn cho động vật. Động vật lại tiêu hoá và trả nguyên liệu lại cho đất: cái vòng tuần hoàn luân lưu chỉ dứt dứt lúc nào dòng sống ở địa cầu phải dứt. || Ph Plante, arbre, végétal. A Plant, tree.

|| Gỗ (tiếng Nam): mua cây để làm nhà, đóng bàn ghế || Ph Bois. A Wood, timber.

Ăn quả nhớ kẻ trồng cây (tục ngữ)

(...)

|| Vật dài như thân cây: cây đèn, cây đũa, cây sào, cây sắt || Ph Object long, en forme de tronc d’arbre, de tige dé plant; baguette, baaton, perche. A Stick, cane, pole.

|| Vật dài cuốn lại thành tấm : cây vải, cây lãnh || Ph Pièce (d’estoffe). A Roll (of material).

|| Xem hoa, lá, rễ, thân cây, phụ bản cây, cây ăn quả. Cây lúc lớn có quả ăn được: trồng cây ăn quả (...) || Ph Arbre fruitier A Fruit-tree

cây ăn quả (...)

cây bút (...)
 

Những cây ở Việt Nam có vị thuốc

Tên Việt Nam

Tên khoa học và tên Pháp

Công dụng về thuốc

Mọc hay trồng ở đâu

(...)

(...)

(...)

hay

Ảnh (Hình bóng của một vật gì). Hình, bóng chiếu ra, chụp ra, hình vẽ lại:ảnh màu, chụp ảnh, chớp ảnh || Ph Photographie (photo), image. A Image, photography.

Lấy ảnh khắp người ai cũng tỏ,

Làm gương trên đất để soi chung

 (Tú Xương)

ảnh màu Hình chụp hay vẽ có tô màu (...)

ảnh vẽ Hình do tay vẽ ra (...)

(...)

máy ảnh Thứ máy có ống kình để chụp hình || Ph Appareil photographique. A Camera.

A/ Các bộ phận - Một máy ảnh gồm có 2 bộ phận thiết yếu là: phòng tối (chambre noire) và vật kính (objectif). Ngoài ra còn có 1 máy trập (obturateur), 1 máy nhắm (viseur), và có thể có (ở các máy tối tân): máy trắc viễn (télémètre) và máy thời ảnh kế (posemètre).

Vật kính là bộ phận hệ trọng nhất (...)

Phòng tối có thể là (...)

Máy trập (máy chớp) để mở vật kính lúc cần đến (...)

B/ Các thứ máy - Hiện nay máy chụp hình rất nhiều, nhưng đại khái có thể chia làm 3 loại:

1 – Máy có phòng tối cứng (...)

2 – Máy xếp lúc mở dùng thì kéo dài ra (...)

3 – Máy gọi là máy cỡ nhỏ (petit format) để chụp phim (...)

(Kèm theo ảnh minh hoạ cấu tạo của một chiếc máy ảnh)

4.2. Là công trình đầu tiên ở Việt Nam đã mang được “hơi hướng” của loại hình từ điển bách khoa.

Ở bộ từ điển này, chúng ta có thể tìm thấy các loại mục được trình bày với dung lượng nội dung như trong các bộ từ điển bách khoa thường thấy cộng với sự “hợp sức” trong nội dung của các phụ trương về các khái niệm khoa học kĩ thuật (vũ trụ, thiên hà, biển, máy ảnh, bò sát ...), các khái niệm khoa học xã hội và nhân văn (biện chứng pháp, Ấn-độ giáo, Alexandre de Rhodes và vấn đề chữ quốc ngữ, bi kịch...), các khái niệm âm nhạc nghệ thuật (như hát bội...), v.v.

Các mục về các châu, quốc gia, miền, xứ, đô thị lớn nhất trên thế giới cùng các mục về các tỉnh, quận, thị xã của Việt Nam cùng các bản đồ minh hoạ sẽ cung cấp cho chúng ta một bức tranh tổng quan về địa lí hành chính thế giới và Việt Nam khi đó.

Bộ từ điển còn có những mục nhằm cung cấp cho độc giả mọi hiểu biết cần yếu nhất về các địa danh lịch sử, các cuộc chiến tranh thế giới; các nhân vật nổi tiếng trong lịch sử và hiện nay; các tác phẩm nổi tiếng; các danh thắng nổi tiếng bằng cả các bài viết và các tranh ảnh, sơ đồ, hình vẽ... minh hoạ.

4.3. Dựa vào những phân tích nói trên cùng với những tư liệu hiện có được trong tay, chúng tôi mạnh dạn cho rằng đây chính là bộ từ điển bách khoa đầu tiên của Việt Nam, đồng thời đó cũng chính là giá trị lớn nhất của bộ sách. Vì thế mà bộ sách này đã mang trong mình vẻ “hồn nhiên buổi ban đầu” riêng của nó về ý đồ và cách thức biên soạn.

Công sức bỏ ra của tác giả cùng các cộng sự khi biên soạn bộ sách, trong điều kiện tự trang trải kinh phí, để bộ từ điển này có thể ra mắt được một cách chững chạc như vậy là hết sức lớn và đáng trân trọng. Bộ sách xuất hiện trong thời điểm những năm 60 của thế kỉ 20 đã cho thấy một giá trị hiếm có, nên những hạn chế về mặt này mặt khác có bộc lộ ở bộ sách cũng là điều có thể thông cảm. Có chăng chỉ muốn nói rằng, giá như bộ từ điển có được sự chuẩn bị kĩ lưỡng về nghiệp vụ làm từ điển hơn thì sẽ không để xảy ra tình trạng thiếu thống nhất, nhất quán trong phương diện thu thập và xử lí phiên âm danh từ khoa học và tên riêng, hay trong cách trình bày các đề mục...

THƯ MỤC THAM KHẢO

[1] Đào Đăng Vỹ, Việt Nam Bách khoa Từ điển, xuất bản tại Sài Gòn, quyển I (1959), quyển 2 (1960), quyển 3 (1961).

[2] Đào Đăng Vỹ: vi.wikipedia.org

[3] Nhà văn Đào Đăng Vỹ: www.vietgle.vn

 

SUMMARY

This article presents the “Việt Nam Bách khoa Từ điển” compiled by Đào Đăng Vỹ, published during 1959-1963. This encyclopedic dictionary comprises various volumes, arranged according to twenty main topics, each of which is followed by some writing and addendum. This is a mixture of the three genres of dictionary: philological dictionary, reference dictionary, and encyclopedic dictionary.



Tạp chí Từ điển học và Bách khoa thư, số 01, năm 2011